tomathien.org

Truyện Cổ Tích

E-mail Print PDF
Facebook Twitter MySpace Digg Delicious Google Buzz Yahoo Buzz Stumbleupon Reddit Linked In 

Xin Lưu Ý

Những tài liệu này thuộc quyền sở hữu của Trường Thánh Tôma Thiện. Khi sử dụng, quý vị đồng ý chỉ sử dụng trong việc giáo dục, không sử dụng cho việc kinh doanh dưới bất cứ hình thức nào. Quý vị cũng đồng ý sẽ không sao chép, thay đổi nội dung hoặc phân phối nếu chưa có sự chấp thuận của trường.

Nếu quý vị thấy tài liệu này hữu ích trong công việc giáo dục các em, xin giúp chúng tôi trang trải chi phí cho việc biên soạn để chúng tôi có thể tiếp tục cung cấp các tài liệu miễn phí trong tương lai. Xin chân thành cảm ơn quý vị.

CT-1 Hồ Hoàn Kiếm

Hồ Hoàn Kiếm

Vào thời ấy, giặc Minh đô hộ nước Nam. Nghĩa quân Lam Sơn nổi dậy nhưng không thành. Thấy vậy, đức Long Quân cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần.

Lê Thận là chàng ngư phủ ở Thanh Hóa. Trong một lần kéo lưới, chàng thấy một thanh sắt mắc vào lưới. Không suy nghĩ chàng vứt luôn xuống nước.

Đến lần thứ hai, rồi thứ ba, thanh sắt vẫn mắc vào lưới. Lấy làm lạ, Thận liền mang thanh sắt để gần lửa thì thấy không phải là một thanh sắt rỉ mà là một lưỡi gươm.

Thận về sau gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Một hôm chủ tướng Lê Lợi đến nhà Thận. Trong gian nhà tối om, thanh sắt hôm đó chợt sáng quắc lên. Lấy làm lạ, Lê Lợi đến gần xem thì thấy hai chữ “Thuận Thiên” khắc sâu vào lưỡi.

Mấy hôm sau, bị giặc đuổi, Lê Lợi chạy trốn vào rừng, chàng phát hiện ánh sáng lạ trên cây đa. Đến gần mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi rút lấy chuôi gươm giắt vào lưng.

Đứng trước nghĩa quân, Lê Lợi lấy chuôi gươm lắp vào lưỡi gươm của Lê Thận vừa dâng, thấy chuôi và lưỡi vừa khít. Mọi người thấy sự lạ đồng thanh hô:

─ Trời đã trao gươm cho chủ tướng để trừ giặc.

Nhờ có gươm thần, Lê Lợi đã đánh đuổi được giặc Minh. Lê Lợi lên làm vua tức là vua Lê Thái Tổ.

Một năm sau vua Lê Thái Tổ cưỡi thuyền rồng dạo quanh Hồ Tả Vọng thì thấy một con rùa vàng lớn.

Rùa vàng bơi đến trước thuyền vua, cúi đầu vái:

─ Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!

Rùa ngậm thanh gươm thần rồi lặn xuống hồ. Từ đó, Hồ Tả Vọng được đặt tên là Hồ Hoàn Kiếm hay Hồ Gươm. .

CT-2 Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày

Sự Tích Bánh Chưng Bánh Dày

Ngày xưa, vào đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi dẹp xong giặc Ân, vua muốn truyền ngôi cho con. Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng:

─ Ai tìm được thức ăn ngon, có ý nghĩa hay, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho.

Các hoàng tử đua nhau tìm kiếm của ngon vật lạ để dâng lên cho vua cha, với hy vọng mình sẽ được ngai vàng. Họ lần mò trên ngàn dưới biển không sót nơi nào. Bất kỳ thứ gì nghe nói là ngon và lạ họ đều cố tìm cho bằng được.

Người con trai thứ mười tám của Hùng Vương, tên là Tiết Liêu, có tính tình hiền hậu, đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người giúp đỡ, nên Tiết Liêu lo lắng không biết làm thế nào.

Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị thần đến bảo:

─ Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo. Con hãy lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng trưng Cha Mẹ sinh thành.

Tiết Liêu tỉnh dậy và làm theo lời thần dặn. Anh chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng hình Đất, bỏ vào chõ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Sau đó anh giã xôi làm bánh tròn, để tượng trưng cho Trời, gọi là Bánh Dày. Còn lá xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh để tượng trưng cha mẹ yêu thương đùm bọc con cái.

Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món ngon của lạ.

Tiết Liêu chỉ có Bánh Dày và Bánh Chưng. Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, thì Tiết Liêu đem chuyện thần báo mộng kể, giải thích ý nghĩa của Bánh Dày, Bánh Chưng.

Vua cha nếm thử, thấy bánh ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi vua lại cho Tiết Liêu. Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, thì dân chúng làm bánh chưng và bánh dày để dâng cúng tổ tiên và Trời Đất.

CT-4 Sự Tích Con Chim Quốc

Sự Tích Con Chim Quốc

Ngày xưa, có hai người bạn tên là Nhân và Quắc sống chung với nhau như anh em ruột thịt. Vì cả hai đều là học trò nghèo và mồ côi cha mẹ từ nhỏ nên họ thương yêu, đùm bọc nhau lắm.

Năm ấy mất mùa đói kém, Nhân và Quắc phải mỗi người mỗi ngả để tự đi kiếm sống.

Nhân đến phố Bến xin làm thuê cho một phú ông. Phú ông thấy Nhân thật thà, chăm chỉ nên rất tin cậy và gả con gái cho Nhân. Do chịu khó làm ăn, vợ chồng Nhân trở nên giàu có. Nhân giàu nhưng không quên tình bạn, luôn nhớ tới Quắc.

Một hôm, Nhân quyết định đi tìm bạn. Nhân đi khắp nơi, hỏi thăm khắp chốn. Cuối cùng, Nhân cũng gặp được Quắc. Quắc cho Nhân biết cuộc sống của Quắc rất khó khăn, ngày no ngày đói thất thường.

Nhân mời Quắc về nhà mình và nói:

─ Anh hãy về nhà tôi. Chúng mình đã coi nhau như anh em ruột thịt thì lúc no lúc đói đều cần phải có nhau.

Rồi Nhân đưa Quắc về nhà.

Vợ Nhân vốn là người sống ích kỷ nên khi thấy chồng đưa bạn về, chị ta gọi chồng vào buồng và than trách:

─ Bạn bè từ thuở nào, sao lại đưa về nhà? Thêm miệng ăn, làm hao tốn tiền của.

Nhân rất buồn nhưng không dám nói cho Quắc hay.

Cuộc sống hằng ngày cứ diễn ra đều đều. Vợ Nhân khó chịu ra mặt. Quắc hiểu và không muốn gia đình Nhân đổ vỡ vì mình, nên Quắc âm thầm ra đi. Quắc để lại lá thư nói rằng: “Quắc sẽ đi đến một nơi xa để sinh sống. Nhân khỏi phải tìm Quắc nữa…”.

Lúc Nhân ở xa về, đọc thư biết Quắc đã bỏ đi. Nhân buồn khóc mấy ngày rồi cuối cùng Nhân quyết định lại đi tìm bạn. Nhân đi vào khu rừng sâu vắng lặng. Vừa đi Nhân vừa gọi:

─ Quắc ơi! Quắc ơi! Quắc ở đâu?

Nhân đi mãi, gọi mãi, cho đến hơi thở cuối cùng. Nhân chết hóa thành chim Quốc.

Quắc ở đâu? Còn sống hay đã chết? Không ai rõ, nhưng câu chuyện về tình bạn keo sơn, gắn bó thì đã lan truyền khắp nơi. Ai ai cũng xem đó là tấm gương sáng để con cháu mình noi theo. Và chim Quốc thường được mọi người nhắc đến bằng một cái tên rất đẹp: chim Ðỗ Quyên.

CT-5 Sơn Tinh, Thủy Tinh

Sơn Tinh, Thủy TInh

Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên gọi là Mỵ Nương, sắc đẹp tuyệt trần. Mỵ Nương được vua cha hết lòng yêu thương. Nhà vua muốn kén chọn cho nàng một người chồng thật xứng đáng.

Kinh đô Phong Châu những ngày sau đó thật rộn ràng, tấp nập. Nhưng cuộc kén chọn đã diễn ra suốt một tháng mà chưa ai thực sự chứng tỏ được tài năng vượt trội của mình.

Vua Hùng và các Lạc Hầu, Lạc Tướng rất đỗi buồn rầu, thất vọng. Ðúng lúc ấy, có hai chàng trai mặt mũi khôi ngô, tuấn tú xuất hiện xin ra mắt nhà vua để cầu hôn.

Một người ở vùng núi Ba Vì, tên là Sơn Tinh. Chàng tuấn tú và tài giỏi khác thường. Chàng chỉ tay đến đâu là núi rừng mọc lên đến đấy.

Còn người kia là Thủy Tinh, ở vùng biển Ðông. Chàng cũng tài giỏi không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về.

Phép thuật của hai chàng trai muôn vàn biến hóa.

Một người là chúa của miền non cao, một người là chúa của vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. Nhà vua không biết chọn ai.

Cuối cùng, vua Hùng phán rằng:

─ Ngày mai, nếu ai đem đồ sính lễ đến đây trước: một trăm ván cơm nếp, hai trăm tệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, thì được rước dâu về.

Mới tờ mờ sáng hôm sau, Sơn Tinh cùng đoàn tùy tùng đem đầy đủ các lễ vật dâng lên vua Hùng.

Lập tức, lễ cưới được diễn ra. Công chúa Mỵ Nương bịn rịn chia tay cha lên kiệu hoa, theo Sơn Tinh về núi Tản.

Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo, đòi cướp lại Mỵ Nương.

Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, dâng nước sông lên cuồn cuộn tiến đánh Sơn Tinh. Sơn Tinh dùng phép di từng dãy núi chặn đứng dòng nước lũ. Nước dâng lên cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi, núi mọc cao lên bấy nhiêu.

Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời liền. Cuối cùng Thủy Tinh đuối sức phải rút quân về.

Từ đó, oán ngày càng thêm nặng, thù ngày càng thêm sâu. Hằng năm vào khoảng tháng 7 âm lịch, Thủy Tinh lại nhớ đến thù xưa và dâng nước đánh Sơn Tinh.

CT-7 Bán Tóc Đãi Bạn

Bán Tóc Đãi Bạn

Ở xứ Đoài có ba người học trò tên Mậu, Kỷ, và Nhân cùng học và chơi với nhau rất thân. Sau khi học xong, họ chia tay và dặn nhau rằng:

─ Suốt đời chúng mình coi nhau như anh em ruột thịt, nếu người nào gặp khó khăn thì thăm hỏi giúp đỡ nhau.

>

Mậu trở về làng quê và được một ông thầy đồ dạy kèm. Nhờ thông minh và ham học nên Mậu thi đỗ tiến sĩ. Mậu được bổ về làng làm quan huyện ở xứ Đoài.

Kỷ cũng trở về làng. Nhờ buôn bè và thừa kế ruộng đất, Kỷ đã trở thành người giàu có. Tuy giàu có nhưng Kỷ rất keo kiệt và không muốn giao thiệp với ai vì sợ người ta vay mượn hoặc dò la để ăn trộm.

Một hôm, Mậu giả làm người dân nghèo đến chơi nhà Kỷ. Kỷ giả vờ không nhận ra vì thấy Mậu trông vẻ nghèo đói. Kỷ nghĩ Mậu đến vay mượn hoặc xin xỏ nên nhăn nhó nói:

─ Mấy năm nay hạn hán mất mùa, gia đình tôi cũng chẳng đủ ăn, túng thiếu lắm.

Đúng lúc ấy, người đày tớ bước vào hỏi Kỷ:

─ Bẩm, ông có muốn làm cơm đãi khách không?

Kỷ liền quát:

─ Không! Cút ngay, không tao đánh cho một trận bây giờ!

Mậu nghe thấy vậy liền xin phép ra về.

Hôm sau, Mậu đến thăm Nhân. Vợ chồng Nhân làm thuê để nuôi thân và sống trong cái lều nhỏ. Gặp lại Mậu, Nhân rất vui rồi anh bảo vợ:

─ Bác Mậu là bạn thân của tôi. Mình hãy đi chợ nấu cơm đãi khách quý.

Trong lúc làm cơm, nóng quá nên vợ Nhân đã cởi chiếc khăn trùm đầu ra. Lúc chị bưng mâm cơm lên, Mậu hỏi nhỏ Nhân:

─ Sao vợ bác đầu trọc thế kia?

Lúc này, Nhân đành phải nói thật:

─ Vợ tôi không vay tiền được nên đã bán bộ tóc dài để lấy tiền mua thức ăn.

Trước cử chỉ đẹp đẽ của vợ bạn, Mậu liền biếu vợ chồng Nhân một thoi vàng và cảm động nói:

─ Tôi cảm ơn tình cảm của hai bác đã dành cho tôi. Bác cầm tiền này ăn uống cho khỏe để tóc mọc chóng dài.

Ít lâu sau, Mậu giúp Nhân lên huyện để học nghề thuộc da và mở xưởng. Gia đình Nhân sau đó trở nên giàu có và trở thành ông tổ nghề thuộc da ở xứ Đoài.

Cũng về sau, Kỷ biết được Mậu chính là quan huyện. Kỷ ân hận mãi và không bao giờ dám gặp Mậu nữa.

CT-9 Sự Tích Cây Nêu

Sự Tích Cây Nêu

Ngày xửa ngày xưa, trên mặt đất chỉ toàn một giống Quỷ. Chúng làm chủ trái đất, và Người chỉ làm thuê, phải nộp hoa màu cho Quỷ. Lúc ấy, Người rất thưa thớt nên sợ Quỷ lắm.

Một hôm Quỷ gọi Người đến bảo:

 

─ Tao cho mày lấy đất của tao trồng lúa. Khi được lúa, tao ăn ngọn, mày ăn gốc.

 

Người ra sức cày cấy vất vả. Đến mùa gặt, Người phải gánh hết lúa đến nhà Quỷ.

Chỉ còn trơ lại gốc rạ, Người không có gì để ăn nên ngồi khóc. Bỗng Bụt hiện ra rồi mang đến cho Người một dây khoai lang giống, dạy Người cuốc đất, đánh luống, trồng khoai.

 

Chẳng bao lâu các luống khoai đã tốt um rồi lá ngả vàng. Người đào khoai lấy củ gánh về nhà, còn ngọn thì gánh đến nhà Quỷ. .

Quỷ không ăn được ngọn khoai lang nên đành chịu đói năm đó. Tức quá, Quỷ gọi Người đến và dọa nạt:

 

─ Năm tới thì ta sẽ lấy luôn cả ngọn lẫn gốc!

 

Nghe xong, Người sợ lại ôm mặt khóc. Bụt hiện ra và mang cho Người một bọc bắp giống.

Đến mùa thu hoạch, Quỷ nhắc nhở Người:

 

─ Ta lấy cả ngọn lẫn gốc. Ngươi lấy đoạn giữa.

 

Người bẻ ngọn, nhổ cả gốc lẫn rễ gánh về nhà Quỷ. Còn những bắp vàng óng ở giữa Người bỏ vào gùi mang về nhà.

Một lần nữa Quỷ lại tức điên lên, gọi Người đến quát:

 

─ Ta có đất mà ta phải chịu đói à? Ta quyết định không cho ngươi thuê đất nữa.

 

Không có đất cày cấy thì lấy gì mà ăn? Người lại ngồi khóc. Bụt lại hiện lên hỏi. Người kể đầu đuôi cho Bụt nghe.

Bụt đi tìm Quỷ và bảo:

 

─ Các ngươi có cả mặt đất bao la, hãy cho Người một mảnh đất bằng cái bóng áo cà sa của ta đây thôi để Người sinh sống.

 

Quỷ đồng ý. Bụt bèn làm phép để khắp mặt đất, mỗi nơi mọc lên một cây tre. Trên ngọn tre treo cái áo cà sa vàng. Thế là đâu đâu cũng có bóng áo cà sa phủ xuống đất. Bóng áo cà sa tỏa đến đâu thì Quỷ lại chạy lui đến đấy. Quỷ chạy mãi không dám quay lại, ra đến tận bờ biển Đông.

Một ngày cuối năm kia Quỷ khấn:

 

─ Lạy Bụt, năm hết Tết đến, xin phép cho chúng tôi vào trong đất liền để được đi thăm mồ mả của tổ tiên.

 

Từ ngày ấy, đến Tết có tục mỗi nhà cắm một cây tre ở trước cửa làm cây nêu như để xua đuổi Quỷ ác không vào nhà.

CT-10 Cậu Bé Thần Đồng

Cậu Bé Thần Đồng

Ngày xưa, vua thường truyền cho các quan lại đi khắp nơi để tuyển lựa người tài đức ra giúp nước. Một hôm, một viên quan dắt ngựa qua cánh đồng gặp hai cha con nọ liền hỏi:

─ Này, bác nông dân, trâu của bác một ngày cày được bao nhiêu luống đất?

Không đợi bố trả lời, cậu bé nhanh nhẹn thưa:

─ Bẩm quan, ngựa của ngài cưỡi, đi được bao nhiêu bước một ngày?

Sự ứng đáp khôn ngoan của cậu bé đã đến tai vua. Để thử tài cậu bé, vua ban thưởng cho dân làng ba thúng nếp ngon và ba con trâu đực để nuôi. Vua ra lệnh, khi trâu lớn phải đẻ ra nghé. Dân chúng trong làng sợ hãi và lo lắng. Cậu bé bình tĩnh nói:

─ Xin dân làng đừng lo lắng, bố con tôi sẽ lên kinh đô lo chuyện này.

Lên tới kinh đô, gặp được vua, cậu bé quỳ xuống và khóc ầm lên.

─ Con muốn có em, mà bố con lại không chịu đẻ em bé.

Nghe xong, Vua và các quan cười ngất. Vua nói:

─ Bố con là đàn ông thì sao đẻ được!

Cậu bé thôi khóc, hỏi lại vua:

─ Thế thì trâu đực vua ban cho dân làng con làm sao đẻ ra nghé được ạ?

Vua sai một viên quan đưa đến cho cậu bé một con chim nhỏ và truyền cho cậu bé giết chim để làm tiệc cho vua ăn. Cậu bé thưa lại:

─ Xin tâu lại với vua, hãy lấy cây kim khâu và rèn kim thành dao to và sắc để tôi làm thịt chim.

Phục tài và trí thông minh của cậu bé, vua cho người đến dạy chữ và võ cho cậu.

Một hôm, sứ giả nước láng giềng dâng vua một vỏ ốc và sợi chỉ, thách rằng:

─ Nếu luồn được sợi chỉ qua vỏ ốc thì hai nước kết giao; nếu không sẽ phải mất một phần đất.

Bí quá, vua đành sai quan đi hỏi cậu bé. Cậu bé đọc một bài thơ cho quan nghe, để về trình vua:

Tích tịch tình tang.

Bắt con kiến càng, buộc chỉ ngang lưng.

Bên thời lấy giấy mà bưng,

Bên thời bôi mỡ, kiến mừng kiến sang.

Bài thơ có ý là: Lấy sợi chỉ buộc ngang lưng một con kiến càng, cho nó bò vào vỏ ốc.

Con kiến càng chui qua vỏ ốc một cách dễ dàng. Vua và cả triều đình mừng rỡ. Sứ thần thán phục tài trí kiệt xuất này, đành rút quân về, không đòi chia đất của nước ta nữa.

Cậu bé được gọi là Thần Đồng. Lớn lên, với sự thông minh và siêng năng học hành, cậu bé đã thi đậu trạng nguyên.

CT-11 Thánh Gióng

Thánh Gióng

Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Phù Đổng có hai vợ chồng ăn ở phúc đức, sinh được một người con trai, đặt tên là Gióng. Nhưng lạ thay, Gióng đã lên ba tuổi mà không biết đi hoặc nói cười.

Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh nên nhà vua lo sợ, bèn truyền cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Gióng nghe tin, bỗng dưng cất tiếng nói:

─ Mẹ ra mời sứ giả vào đây.

Sứ giả vào. Gióng bảo:

─ Xin về tâu với vua rèn cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt. Ta sẽ phá tan lũ giặc này.

Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Cả triều đình bàn tán xôn xao vì điềm lạ, nhưng ai cũng tin là có thánh nhân phù trợ, vận nước đã đến cơ may.

Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm rèn gấp những vật Gióng cần.

Càng lạ hơn nữa, sau hôm gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn cả nồi cũng không no; áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ nuôi con, thành thử phải chạy nhờ bà con, hàng xóm. Cả làng đều vui lòng gom góp gạo thóc để nuôi Gióng, vì ai cũng mong Gióng giết giặc, cứu nước.

Đúng hẹn sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến. Gióng vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt.

Gióng cúi lạy mẹ, vái chào dân làng rồi mặc áo giáp sắt, cầm roi sắt, nhảy lên lưng ngựa sắt, giật cương. Con ngựa hí dài mấy tiếng vang dội, phun lửa và cất vó phóng như bay.

Người và ngựa phi vào giữa đại quân giặc Ân. Roi của Gióng vung lên như chớp. Con ngựa sắt phun ra từng tảng lửa. Cả đoàn quân giặc bốc cháy, tan tác. Các đồn trại liên tiếp cháy trụi.

Gióng mải mê đánh đến khi roi sắt gãy. Tiện tay, Gióng vươn mình nhổ những bụi tre ven đường quật xuống đám tàn quân đang chạy tán loạn.

Giặc tan vỡ. Ðám tàn quân giẫm đạp nhau chạy trốn. Gióng đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn). Ðến đấy, một người một ngựa, Gióng lên đỉnh núi cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời.

Để nhớ ơn người anh hùng Thánh Gióng, vua Hùng sai lập đền thờ ở làng quê, phong làm Phù Đổng Thiên Vương.

CT-12 Giàu Ba Họ, Khó Ba Đời

Giàu Ba Họ, Khó Ba Đời

Ngày xưa, có một anh học trò rất chăm học, chăm làm, nhưng nhà rất nghèo. Tục ngữ có câu: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.” Vì thế, anh muốn tìm Ngọc Hoàng ở ngoài bể Đông để hỏi tại sao nhà anh cả ba đời nay vẫn nghèo khó.

Anh khăn gói ra đi. Trên đường đi, anh được một nhà phú ông khá giả dọn cơm cho ăn và nhờ anh hỏi Ngọc Hoàng: Tại sao nhà phú ông ăn ở nhân đức mà chỉ sinh được một cô con gái, lại bị câm từ thuở bé.

Anh nhận lời rồi đi tiếp. Một buổi chiều, anh lại ghé vào một nhà khác. Chủ nhà đãi ăn một bữa rồi nhờ anh hỏi Ngọc Hoàng: Vì lẽ gì mà cây cam của nhà tôi từ khi trồng chỉ tốt lá, không ra hoa, không có quả.

Ngày kia, anh học trò ra tới bể Ðông và được một con Ba Ba to lớn cõng anh ra ngoài đảo gặp Ngọc Hoàng. Ba Ba nhờ anh hỏi Ngọc Hoàng: Tại sao Ba Ba cứ quanh quẩn ở đây cả nghìn năm, chẳng được bay nhảy vẫy vùng đi đâu.

Người học trò đến đảo, gặp Ngọc Hoàng liền đem những việc mà mọi người nhờ ra hỏi trước. Ngọc Hoàng cặn kẽ trả lời lần lượt:

─ Ba Ba phải nhả viên ngọc trong bụng ra mới có thể hóa kiếp khác được. Cây cam không có quả vì dưới gốc cây có vàng. Đã có vàng rồi thì không được quả. Cô gái câm sẽ nói được khi nhà ngươi thi đỗ trạng về.

Cuối cùng, anh hỏi về nỗi cơ cực của mình thì Ngọc Hoàng không trả lời và biến mất.

Đợi lâu chẳng thấy Ngọc Hoàng trở lại, anh lủi thủi ra bờ biển. Gặp Ba Ba, anh bảo Ba Ba hãy nhả viên ngọc cho anh. Ba Ba nhả viên ngọc ra, liền biến thành con rồng vẫy vùng trên trời xanh bao la.

Về đến gốc cây cam, anh học trò bảo chủ nhà hãy đào vàng ở dưới gốc cây cam lên. Nghe lời, chủ nhà đào lên được rất nhiều vàng. Lại nhìn lên cây thì thấy chi chít những quả cam chín vàng.

Lúc này ở kinh đô, nhà vua đang mở khoa thi. Anh dự thi và đoạt được giải trạng nguyên. Sau khi đỗ trạng, anh ghé thăm hai cha con phú ông.

Phú ông chắp tay hỏi:

─ Thưa quan trạng, việc ngày trước tôi đã nhờ thế nào?

Anh chưa kịp trả lời thì cô con gái, lâu nay bị câm, đã mở miệng thưa:

─ Lạy cha, chồng con đỗ trạng đã về.

Phú ông vui mừng bèn gả con cho anh. Ðám cưới được tổ chức linh đình. Vợ chồng anh sống hạnh phúc đến cuối đời.

CT-13 Con Chó Đá

Con Chó Đá

Nhà kia có hai anh em, cả hai cùng đã có vợ con nhưng gia cảnh của hai anh em thì trái ngược nhau. Người anh thì giàu có, còn người em thì lại nghèo khó.

Trưa hôm ấy, một ông lão ăn mày tới nhà người anh đúng lúc cả nhà đang ăn uống vui vẻ. Vừa thấy ông, vợ chồng người anh ác độc liền xua chó ra đuổi. Ông lão ăn mày sợ quá bỏ chạy.

Ông chạy qua trước nhà người em thì té ngã, kiệt sức vì đói. Thấy vậy, người em vội vàng đỡ ông vào nhà và múc cháo cho ông ăn. Ăn xong, ông lão khỏe hẳn lên và nói:

─ Hai vợ chồng con ăn ở thật nhân đức. Sáng mai, các con đợi ta ở đầu suối.

Hôm sau vợ chồng người em đến đầu suối gặp ông lão. Ông dẫn họ lên tận đỉnh núi cao nhất thì thấy một con chó đá. Ông cầm gậy gõ ba cái vào đầu nó. Lập tức nó nghếch đầu, há mõm. Ông nói:

─ Trong mồm chó có vàng. Các con muốn lấy bao nhiêu thì lấy.

Hai vợ chồng rụt rè làm theo lời của ông nhưng chỉ lấy mỗi người một thoi.

Nghe người em kể lại chuyện đó, người anh thấy tiếc. Từ hôm ấy, vợ chồng người anh lúc nào cũng chờ đợi ông lão ăn mày. Một hôm, vừa nhìn thấy ông, người anh đã ra tận cửa mời ông vào nhà, lại giết gà, làm cơm rượu thịnh soạn mời ông ăn. Trong bữa ăn, người anh cứ nài nỉ ông dẫn đi lấy vàng. Ăn xong, ông lão nói:

─ Sáng mai ra bờ suối đợi ta!

Tờ mờ sáng hôm sau, vợ chồng người anh cả đã có mặt ở bờ suối với đôi quang gánh to. Họ theo ông lão lên núi, đến bãi cỏ có con chó đá. Ông gõ ba cái lên đầu chó đá. Nó liền há mõm ra.

Người anh vội vàng thò ngay tay vào. Chó đá bập ngay miệng lại. Thế là người anh không rút tay ra được.

Từ hôm ấy, người vợ ngày ngày phải mang cơm nước lên cho chồng ăn, lại dựng cả một cái lều để che mưa, che nắng cho chồng.

Trong nhà dần dần khánh kiệt, của cải phải bán hết. Người chồng lo nghĩ khiến người gầy hóp lại như chiếc lá héo.

Một hôm, người chồng gọi vợ đến bên cạnh, rầu rĩ nói:

─ Tôi không thể sống được nữa đâu! Chắc đêm nay tôi sẽ chết!

Nghe xong, người vợ oà khóc. Thấy tình nghĩa vợ chồng thắm thiết, con chó thương hại, há miệng nhả tay người chồng ra. Hai vợ chồng thoát chết chạy thẳng xuống núi. Từ đó, họ không dám ăn ở độc ác như xưa nữa.

CT-15 Sự Tích Dưa Hấu

Sự Tích Dưa Hấu

Ngày xưa, vua Hùng tuần thú ở vùng bờ biển Nga Sơn, gặp Mai An Tiêm thấy hiền lành bèn nhận làm con nuôi và cho An Tiêm về kinh ở. Vì giúp vua nhiều việc, An Tiêm được vua đối xử ngang như các quan đầu triều.

Một hôm, An Tiêm mở tiệc mời các quan đồng liêu và vui miệng nói rằng:

─ Của biếu là của lo, của cho là của nợ. Những món ăn cao lương mỹ vị này đều do bàn tay con người làm nên.

Mấy người mưu sĩ ghen ghét với An Tiêm đem tâu lại với vua Hùng rằng:

─ Nó dám kiêu ngạo và ngỗ ngược với tất cả. Nó xấc xược rằng cái gì cũng do tay nó mà có.

Nghe xong, vua Hùng nổi giận, quát lớn:

─ Hãy đày cả nhà nó ra giữa biển, cho ở chốn hoang đảo để đợi cái chết vì cái tội ngông cuồng.

Đoàn thuyền giải An Tiêm và vợ cùng đứa con mới sinh tới một hòn đảo hoang không người. Ở đảo, mấy hôm liền, dông bão ập đến, có lúc làm nước dâng tràn vào đảo. Thấy vợ khóc hoài, An Tiêm an ủi nàng:

─ Sống hay chết là ở trong tay ta thôi. Dông bão rồi cũng sẽ tan.

Mấy ngày sau, sóng biển yên lặng trở lại, trời đất lại xanh trong. Cuộc sống gia đình An Tiêm trên hoang đảo dần dần được ổn định.

Một ngày kia, có một con chim lạ nhả ra những hạt nhỏ đen nhánh trên đảo. An Tiêm nhặt lên xem và nói với vợ:

─ Quả mà chim ăn được chắc là quả lành. Vợ chồng mình thử ươm những hạt này vào hốc đá rêu ẩm xem đây là cây gì.

Mùa hè năm sau, chỗ hốc đá ấy mọc la liệt những quả tròn to, vỏ màu xanh thẫm. An Tiêm cắt nếm thử một miếng thấy vị ngọt mát như đường. Từ đấy, cứ mỗi mùa hè, dưa mọc khắp bãi, quả nhiều vô kể. Cứ mỗi lần hái dưa, An Tiêm lấy mấy quả đánh dấu rồi thả ra biển.

Ít lâu sau có một chiếc thuyền vớt được những quả dưa có dấu của An Tiêm, liền ghé đến hỏi mua giống dưa quý để đem về bán trên đất liền. Từ đó, An Tiêm đổi được thực phẩm và các vật dụng thường ngày, lại còn cất được căn nhà lá xinh xinh. Thuyền bè xa gần tranh nhau ra mua.

Tiếng đồn về quả dưa đỏ do An Tiêm trồng ngoài hoang đảo tới tai vua Hùng. Vua ngẫm nghĩ thấy mình sai, bèn cho thuyền ra đón gia đình An Tiêm. Cả nhà mừng rỡ, thu hết những trái dưa chín và hạt giống đem về phân phát cho dân và dạy cách gieo trồng chăm bón.

Từ thuở đó, hòn đảo hoang ấy được đặt tên là Đảo Dưa Đỏ, nằm ở địa phận Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

CT-19 Ăn Khế Trả Vàng

Ăn Khế Trả Vàng

Ngày xưa, có một gia đình phú ông sinh được hai người con trai. Khi hai anh em đến tuổi trưởng thành thì bố mẹ lâm bệnh nặng rồi chết, để lại gia tài cho các con.

Được một thời gian, người anh cưới vợ và đòi chia gia tài. Vì tham lam, vợ chồng người anh chiếm hết cả nhà cửa, ruộng vườn và trâu bò. Người em chỉ có một túp lều nhỏ và một mảnh vườn có cây khế ngọt.

Rồi một ngày kia người em cũng lấy vợ. Vợ chồng người em cùng làm ăn và chăm sóc cây khế. Chẳng bao lâu, cây khế sai hoa, trĩu quả một cách lạ thường, cành nào cũng chi chít quả vàng, quả xanh.

Một hôm ra vườn, nhìn thấy một con chim phượng hoàng đang mổ những quả khế vàng, người em nói với chim:

─ Chim ơi! Gia tài của vợ chồng tôi chỉ có cây khế này. Nếu chim ăn hết thì vợ chồng tôi sống bằng gì?

Chim quay ra nhìn anh và đáp:

─ Ăn một quả, trả cục vàng. May túi ba gang, mang đi mà đựng.

Thế là hôm sau người em đeo túi ba gang vào người, ngồi trên lưng chim phượng hoàng để đi đến chỗ lấy vàng.

Chim bay mãi, bay mãi qua bao núi cao, qua bao biển rộng mới tới một hòn đảo lấp lánh đầy vàng ngọc châu báu.

Chim bảo người em cứ lấy thật nhiều vàng bỏ vào túi ba gang, nhưng người em cũng chỉ lấy đầy túi thôi. Xong xuôi, chim phượng hoàng lại đưa người em trở về nhà.

Từ đó, vợ chồng người em trở nên giàu có. Họ đem thóc gạo, vàng bạc chia cho người nghèo, giúp đỡ họ làm ăn sinh sống.

Người anh thấy người em trở nên giàu có nhờ cây khế ngọt liền đòi đổi cả nhà và ruộng vườn của mình lấy cây khế ngọt của em. Thương anh, vợ chồng người em cũng vui vẻ chấp nhận.

Mùa xuân năm sau, chim phượng hoàng lại bay đến để ăn khế. Người anh giả vờ khóc và đòi chim phượng hoàng đưa đi lấy vàng. Chim phượng hoàng đồng ý.

Hôm sau, chim phượng hoàng đến đưa người anh đi lấy vàng. Vợ chồng người anh đã chuẩn bị một cái túi sáu gang để đựng được thật nhiều vàng.

Khi đến hòn đảo châu báu ấy, người anh nhét đầy chặt vàng vào túi sáu gang lại còn giắt thêm bao nhiêu thỏi vào người nữa. Mãi đến chiều tối người anh mới chịu ra về.

Chim phượng hoàng cố sức bay, nhưng vàng thì nhiều, nặng quá. Chim nói với người anh rằng:

─ Ngươi hãy vứt bớt vàng xuống biển cho nhẹ bớt thì ta mới bay về được.

Nhưng người anh tham lam tiếc của cứ giữ khư khư cái túi vàng to ấy. Chim cố không nổi liền nghiêng cánh hất người anh cùng túi vàng rơi xuống biển.

CT-20 Ả Chức Chàng Ngưu

Ả Chức Chàng Ngưu

Có một chàng trai trẻ tên là Ngưu, sống ở ven một khu rừng sâu. Một hôm chàng đi kiếm củi, đến một hồ nước trong xanh, chợt thấy một đám tiên nữ đang bơi lội cười đùa trong làn nước. Thấy có ba bộ cánh ở trên bờ, chàng lẻn ra nhặt một bộ giấu đi.

Sau khi tắm xong, hai nàng tiên kiếm được cánh của mình thì bay đi trước, còn một nàng ở lại vẫn đang tìm đôi cánh. Lúc đó, chàng Ngưu bước ra và nói:

─ Nàng hãy làm vợ tôi. Nếu không, tôi sẽ không trả cho đôi cánh.

Nàng tiên đành theo về và làm vợ chàng.

Thấm thoát ba năm đã trôi qua, nàng tiên sinh được một bé trai kháu khỉnh.

Một hôm trong khi dọn dẹp nhà, nàng thấy đôi cánh mà chồng đã giấu. Nàng nóng lòng về thăm bố mẹ nên quyết định bay về trời. Trước khi đi, nàng chải đầu cho con rồi cài chiếc lược ngà lên mái tóc con.

Từ đấy hai bố con thơ thẩn vì thiếu vắng người thân. Một hôm, chàng Ngưu bế con đến hồ nước, nơi mà chàng gặp được Ả Chức, thì thấy một bà tiên tóc trắng. Chàng Ngưu gỡ chiếc lược ngà trên tóc của con, đưa cho bà tiên nhờ chuyển cho Ả Chức:

─ Xin nói với nàng là bố con ngày đêm mong ngóng được gặp nàng.

Sau khi bà tiên mang chiếc lược ngà về trời và kể chuyện với Ả Chức, nàng liền nhờ các nàng tiên bạn xuống trần đón hai bố con lên trời. Thế là vợ chồng, mẹ con gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi.

Chẳng bao lâu, Ngọc Hoàng biết được bố con chàng Ngưu đang ở trên trời bèn ra lệnh đuổi về trần gian.

Không dám trái lệnh Ngọc Hoàng, Ả Chức đành ngậm ngùi trao cho hai bố con một cái trống, một mo cơm, rồi dặn:

─ Khi về tới nhà, hãy đánh một hồi trống để biết mà cắt dây.

Bố con ở trong túi đói bụng quá, lấy cơm ra ăn. Một đàn quạ thấy vậy liền sà xuống mổ những hạt cơm vãi trên mặt trống. Ở trên trời Ả Chức nghe thấy tiếng trống, nghĩ bố con đã về tới nhà liền cắt luôn sợi dây.

Cái túi đang lơ lửng lưng trời bỗng rơi thẳng xuống biển. Đàn quạ hoảng hốt xúm lại đỡ nhưng không kéo nổi túi lên vì quá nặng. Chúng bèn bay thẳng lên trời kêu cứu. Ngọc Hoàng biết được liền ra lệnh cứu hai bố con chàng Ngưu. Thương tình, Ngọc Hoàng cho hai bố con ở lại trời sinh sống, nhưng không được ở cùng với Ả Chức.

Hằng ngày chàng Ngưu phải đi chăn trâu ở bên kia sông Ngân Hà. Mỗi năm Ngọc Hoàng chỉ cho phép hai người gặp nhau một lần vào mùng bảy tháng Bảy. Trong ngày ấy, đàn quạ vì biết lỗi nên dồn mây làm một cái cầu bắc qua sông Ngân Hà để cho vợ chồng họ gặp nhau.

Vì đấy, cứ vào tiết tháng bảy là có mưa ngâu. Những hạt mưa biểu hiện cho những giọt nước mắt của Ả Chức và chàng Ngưu khi gặp nhau sụt sùi vì nhớ thương.

CT-21 Cây Tre Trăm Đốt

Cây Tre Trăm Đốt

Xưa có một phú ông có cô con gái rất đẹp. Trong nhà thuê một thằng ở để giúp việc. Ông chủ muốn lợi dụng nó, mới bảo nó rằng:

─ Mày chịu khó làm cho tao, rồi tao gả con gái cho.

Thằng ở mừng lắm và ra sức làm việc cho chủ không quản nắng sương, không nài mệt nhọc sớm khuya gì cả.

Nó đã ở được ba năm. Bấy giờ ông chủ thấy nếu đem con gái gả cho thằng ở thì mất mặt. Nghĩ thế, ông bèn đem con gái mình gả cho một gia đình giàu có trong làng.

Sáng hôm đưa dâu, ông chủ gọi thằng ở ra lừa nó, bảo rằng:

─ Nếu mày lên rừng tìm được cây tre trăm đốt về làm đũa ăn cưới, thì tao cho mày lấy con gái tao ngay.

Thằng ở thật thà, lập tức vác dao lên rừng. .

Nhưng suốt buổi, kiếm hết khu rừng, chẳng thấy có cây tre nào đủ trăm đốt. Nó buồn, nó ngồi khóc hu hu. Bỗng thấy một ông lão đầu tóc bạc phơ đến hỏi rằng:

─ Tại sao con khóc?

Nó thưa đầu đuôi câu chuyện. Ông lão nghe rồi bảo rằng:

─ Con đi chặt tre đếm đủ trăm đốt, rồi đem lại đây.

Nó làm y theo như lời, kiếm đủ một trăm đốt tre. Ông lão dạy nó câu thần chú:

─ Khắc nhập, khắc nhập!

Nó vừa đọc xong thì các đoạn tre tự nhiên liền lại với nhau mà thành một cây tre đủ trăm đốt.

Nó mừng quýnh, ghé vai định vác về. Nhưng cây tre dài quá, nhắc lên vướng, không đi được. Nó lại ngồi khóc hu hu. Ông lão lại đến hỏi chuyện. Nó nói tre dài quá không sao vác được về nhà. Ông lão lại dạy nó đọc:

─ Khắc xuất, khắc xuất!

Nó vừa đọc xong thì cây tre lại tức khắc rời ra từng đoạn. Nó liền bó cả lại và gánh về nhà.

Về tới nhà, thấy hai họ đang ăn uống tưng bừng, nó mới biết là bị lừa. Không nói gì cả, nó cứ lẳng lặng đem trăm đoạn tre xếp dang dang dưới đất. Rồi nó lẩm bẩm đọc câu thần chú:

─ Khắc nhập, khắc nhập!

Tự nhiên một trăm đoạn tre kia chắp liền lại thành một cây tre trăm đốt dài lắm. Ông chủ và ông thông gia thấy chuyện lạ lùng, chạy lại để xem. Nó liền đọc lại câu thần chú. Thế là hai ông cũng dính liền ngay vào cây tre.

Hai ông van lạy nó để nó thả ra cho: ông thông gia thì xin về nhà ngay, còn ông chủ thì xin gả con gái cho nó. Lúc bấy giờ nó mới đọc:

─ Khắc xuất, khắc xuất!

Tức thì hai ông rời khỏi cây tre, và cây tre cũng rời ra trăm đoạn.

Thế là nó lấy được cô gái con ông chủ, và từ đó, không ai dám trêu nó nữa. Vì chuyện này mà sau có câu ví rằng:

Chê ta rồi lại lấy ta,

Tuy là đứa ở nhưng mà có công.

CT-22 Chú Cuội Cung Trăng

Chú Cuội Cung Trăng

Ngày xưa, có một chàng trai nghèo khổ cô độc tên là Cuội. Ngày ngày chàng phải lên rừng đốn củi đổi gạo kiếm sống. Một hôm, Cuội vác búa đi vào rừng để đốn củi thì thấy bốn con hổ con đang nằm ở cửa hang. Cuội chợt lo: những con hổ kia tuy bé, nhưng cả bốn con vồ đến ắt ta sẽ chết, vậy ta phải giết chết chúng nó trước.

Cuội đánh chết cả bốn con hổ con thì đúng lúc hổ mẹ về khiến Cuội phải leo lên một cây cao. Ngồi trên cây nhìn xuống, Cuội thấy hổ mẹ lấy một nắm lá đa lông, nhai kỹ và đắp vào chỗ vết thương thì cả bốn con hổ con đều sống lại. Cuội biết cây đa lông là loại thần dược quý liền đào, mang về trồng để cứu chữa cho mọi người.

Trên đường về, Cuội gặp một ông lão nằm chết trên bãi cỏ. Cuội liền lấy lá cây đa lông, nhai kỹ rồi bỏ vào miệng ông lão. Ông lão lập tức sống lại, nói Cuội phải chăm sóc, tưới nước cho cây đa lông để sau này cứu người. Ông lão dặn Cuội phải tưới nước sạch tinh khiết từ suối, nếu tưới nước bẩn cây sẽ bay lên trời.

Cuộc sống của Cuội cứ thui thủi một mình. Một hôm, Cuội nhìn thấy con chó vện đã chết đang trôi giạt vào bờ. Cuội vớt chó lên rồi bỏ nắm lá thuốc vào mồm chó. Chó tỉnh lại dần, ngoe ngoảy cái đuôi rồi đứng lên đi lại nhanh nhảu. Từ đấy, trong nhà Cuội có thêm con chó làm bạn cho nhà đỡ hiu quạnh. Tiếng lành đồn đến dân làng quanh vùng đó rằng: Cuội có cây thuốc thần chữa cho người chết sống lại được.

Ở làng bên có một người con gái chẳng may ngã xuống suối nên bị chết đuối, Cuội cũng dùng lá thuốc đó cứu cho nàng sống lại.

Chủ nhà mừng rỡ khôn xiết liền có ý gả con gái cho Cuội. Cuội bằng lòng. Từ đấy, Cuội có người vợ vừa đẹp người vừa đẹp nết nhất trong vùng.

Từ đó, bọn trai làng đem lòng ghen tức với Cuội và chúng tìm cách hãm hại.

Một tối, chúng nấp rình phía ngoài cửa để nghe trộm hai vợ chồng Cuội tâm sự. Chúng nghe thấy Cuội dặn vợ:

─ Cây thuốc đa lông này phải tưới bằng nước tinh khiết từ ngọn suối, nếu tưới nước bẩn thì cây bay lên trời mất đấy!

Đợi một hôm Cuội vắng nhà, bọn trai làng múc nước bẩn tưới vào cây đa lông làm rễ cây muốn ngoi lên khỏi mặt đất. Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Cuội nhảy lên để kéo cây đa xuống. Nhưng cây đa lại lôi Cuội mỗi lúc bay cao hơn, lơ lửng trên chín tầng mây. Vợ Cuội đứng ở dưới đất nhìn theo kêu khóc thảm thiết.

Rồi cây đa và Cuội đậu lại trên cung trăng, và sự tích chú Cuội cung trăng là thế đấy! Ngày nay, vào những ngày rằm trăng sáng, trông trăng tròn thấy có bóng Cuội ngồi bên gốc cây đa đang đăm đăm nhìn xuống mặt đất, lại rõ hai con mắt của Cuối lóng lánh như hai ngôi sao, tượng trưng cho hai giọt nước mắt.

CT-23 Cái Chén Gáo Dừa

Cái Chén Gáo Dừa

Ngày xưa, ở một vùng nọ, có vợ chồng kia hiền lành và chăm chỉ, thường đem của cải bố thí cho người nghèo. Họ có một đứa con trai tên là Phúc. Thằng Phúc rất khôn ngoan, mới lên ba mà đã ăn nói như người lớn vậy. Hai vợ chồng cảm thấy vô cùng sung sướng và hạnh phúc.

Ngờ đâu, cảnh đầm ấm này chẳng được dài lâu. Vài năm sau, người vợ lâm bạo bệnh rồi qua đời. Người chồng khóc thương vợ nhiều nên mắt sưng lên, vài tháng sau thì mờ dần, không nhìn rõ.

Năm đó lại xảy ra nạn đói vì hạn hán, mất mùa. Một đêm nọ, bọn gia nhân của ông ngày trước đột nhập vào nhà bắt trói cha con ông lại. Vì sợ lộ tung tích, bọn cướp phang ông một gậy rồi vơ vét hết tài sản của ông.

Để nuôi con thoát qua khỏi mùa đói khắc nghiệt năm ấy, ông lùng sục khắp nơi để lặt từng mớ rau; đào từng củ khoai, củ chuối; rồi mò cua bắt ốc.

Ông không ngại cực khổ, làm thuê làm mướn bất cứ việc gì để gầy dựng cơ nghiệp và lo cho con ăn học.

Năm tháng qua đi, Phúc mỗi ngày một khôn lớn và người cha mỗi ngày một già đi.

Ngày con trai lên kinh ứng thí là ngày người cha mừng đến rơi nước mắt, vì ước vọng của ông bao lâu nay đã thành hiện thực. Quả nhiên, Phúc đỗ á khoa kỳ thi năm ấy và được cử làm quan tri huyện trong vùng.

Hai năm sau, quan tri huyện Phúc lấy vợ và cũng có một người con trai kháu khỉnh, sáng dạ như thằng Phúc khi xưa. Người cha lấy làm mãn nguyện vì quan tri huyện lo lắng chăm sóc cho ông rất chu toàn.

Ngày đứa cháu nội lên bốn thì sức ông đã yếu lắm, tay chân run lẩy bẩy. Mỗi lần ăn uống, ông thường lỡ tay làm rơi chén đũa của mình. Người con dâu tiếc của, bèn bảo chồng:

─ Hay là ta kiếm cái gáo dừa làm chén cho cha ăn. Nếu lỡ rơi xuống đất thì cũng không bể.

Sau một hồi phân vân, người chồng lấy cái gáo dừa đẽo gọt miệng cho phẳng để làm chiếc chén.

Cầm chiếc gáo dừa trong tay, ông cảm thấy tủi hổ, xót xa, nhưng không dám nói ra. Một hôm, vợ chồng quan tri huyện thấy con trai mình đang cầm dao đẽo gọt hai cái gáo dừa khô. Họ hỏi đứa bé thì nó hồn nhiên thưa:

─ Dạ, con đang làm hai cái chén. Sau này khi cha mẹ già yếu, dọn cơm cho cha mẹ ăn, lỡ có đánh rơi cũng không bị bể.

Hai vợ chồng điếng người nhìn nhau rồi bật khóc. Họ hối hận vì đã đối xử tệ bạc với người cha già đáng kính. Họ chạy vào phòng, quỳ sụp dưới chân người cha, vừa khóc vừa xin lỗi:

─ Chúng con đã ngu dại khi đối xử với cha như vậy. Dù muôn nghìn chén vàng, chén bạc cũng không sánh nổi lòng cha đối với chúng con. Xin cha tha cho tội bất kính này.

Từ đó vợ chồng người con đối xử với cha rất là hiếu thảo cho tới ngày ông qua đời.

CT-24 Thiếu Phụ Nam Xương

Thiếu Phụ Nam Xương

Ở huyện Nam Xương tỉnh Hà Nam, ngày xưa có một người con gái xinh đẹp, nết na, tên là Vũ Thị Thiết, chồng là Trương Sinh, người cùng làng. Hai vợ chồng rất yêu nhau, tuy trong cảnh túng thiếu nhưng hai người không bao giờ có lời qua tiếng lại. Chỉ có một điều là Trương Sinh hay đa nghi, làm cho vợ lúc nào cũng phải ý tứ, giữ gìn.

Lấy nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh bị gọi đi lính. Trước khi đi, Trương Sinh dặn vợ:

─ Ở nhà nuôi dưỡng mẹ già và nếu sinh con trai thì đặt tên là Đản.

Lúc ấy, vợ chàng có thai sắp đến ngày sinh. Trương Sinh đi chưa được nửa tháng thì nàng sinh được đứa con trai rất kháu khỉnh.

Một nách con mọn, lại có mẹ chồng già, nàng thay chồng làm đủ mọi việc. Mẹ chồng ốm nặng, nàng hết sức chạy chữa trong nửa năm trời, nhưng bà cụ vẫn không qua khỏi được. Nàng làm đám ma cho mẹ chồng rất chu tất, xóm làng ai cũng khen.

Ba năm đã qua. Từ ngày Trương Sinh đi, không có tin tức gì, ở nhà mẹ con tối ngày quấn quýt bên nhau. Có lúc trái nắng trở trời, nửa đêm con khóc hờn mãi mà không nín, nàng Thiết bèn chỉ vào bóng của nàng dưới ánh đèn hiện lên vách nhà và dỗ con:

─ Nín đi con! Bố của con kia kìa. Bố đã về đây rồi!

Đứa trẻ nhìn vào bóng trên vách và nín khóc ngay.

Trương Sinh hết hạn lính trở về. Chàng đau lòng vì mẹ già đã khuất núi, nhưng bù lại được đứa con kháu khỉnh. Trương Sinh hỏi mộ mẹ rồi bế con đi thăm. Ra đến đồng, thằng Đản quấy khóc, chàng Trương dỗ dành:

─ Con nín đi, đừng khóc, bố thương, rồi bố mua quà cho mà ăn.

Thằng bé đáp ngay:

─ Ông không phải là bố Đản... Bố Đản khác kia... Chỉ đến tối bố mới đến nhà.

Nghe con nói, Trương Sinh yên trí vợ mình đã không chung thủy. Trương Sinh tra hỏi vợ. Nàng một mực chối cãi; nhưng chàng không tin, mắng chửi, đánh đập vợ tàn nhẫn.

Người thiếu phụ phẫn uất quá, ôm con khóc nức nở. Thừa lúc chồng sang nhà hàng xóm, chị đặt con xuống giường, chạy ra sông đâm đầu xuống dòng nước chảy xiết.

Chồng về, biết sự chẳng lành, vội chạy ra sông, nhưng mò mãi không tìm thấy xác vợ. Ðến tối đứa trẻ khóc, Trương Sinh bế con, thắp đèn dỗ cho nó nín. Thốt nhiên đứa trẻ chỉ vào cái bóng của Trương Sinh trên vách và nói:

─ Bố kia kìa!

Bấy giờ người chồng mới hiểu lời con nói, mới biết được nỗi oan tày trời của vợ, nhưng đã muộn mất rồi. Người vợ đức hạnh đã quyên sinh. Trương Sinh chỉ còn biết ngày ngày bồng con ra bến Hoàng Giang, nhìn xuống dòng sông mà khóc. Về sau, người trong làng thương nhớ nàng, cho nàng là người trung liệt, nên đã dựng một cái miếu để thờ ngay trên bến Hoàng Giang, gọi là: “Miếu vợ chàng Trương”.

CT-25 Thạch Sanh Lý Thông

Thạch Sanh Lý Thông

Quận Cao Bình có người tên là Thạch Sanh, sống dưới gốc cây đa làm nghề đốn củi. Một hôm, một người bán rượu tên là Lý Thông đi qua đó, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh nên ngỏ ý muốn kết làm anh em. Thạch Sanh nhận lời.

Bấy giờ trong vùng có một con Chằn Tinh. Hằng năm vua phải cống cho nó một mạng người.

Thông nhờ Thạch Sanh đi thế mình. Thạch Sanh đi ngay. Khi Chằn Tinh hiện ra, Thạch Sanh cầm rìu, đánh và chặt đầu Chằn Tinh đem về.

Khi Thạch Sanh về kể chuyện, Lý Thông gian manh nói:

─ Con chằn tinh ấy của nhà vua. Em giết nó; vua sẽ chém đầu. Em hãy lo trốn ngay đi!

Thạch Sanh trốn về gốc đa. Lý Thông bèn đem đầu Chằn Tinh vào cung, báo công đã giết được Chằn Tinh. Vua khen và phong cho hắn làm tể tướng.

Một ngày kia, Thạch Sanh đang ngồi dưới gốc cây đa, thấy con đại bàng bay ngang qua, quắp một người con gái. Chàng giương cung bắn con đại bàng. Nó bị thương nhưng vẫn tha cô gái về hang.

Cô gái đó là công chúa. Nhà vua sai Lý Thông đi tìm công chúa. .

Lý Thông bèn đi kiếm và nhờ Thạch Sanh giúp mình. Thạch Sanh kể chuyện mình bắn con đại bàng và dẫn Lý Thông cùng đám quân lính tới hang có vết máu của đại bàng.

Thấy hang sâu, Thạch Sanh tình nguyện buộc dây vào lưng cho quân lính thả xuống hang. Vừa đặt chân xuống hang Thạch Sanh đã trông thấy đại bàng nằm xõa cánh trên vũng máu đen kịt liền bổ một rìu. Đại bàng vỡ đôi đầu, chết ngay.

Sau khi giết được đại bàng, Thạch Sanh dắt công chúa đến sợi dây thừng và buộc vào. Chàng ra hiệu cho Lý Thông kéo nàng lên trước. Vừa lên khỏi miệng hang thì Lý Thông bảo quân lính đưa nàng về cung. Sau đó, Lý Thông ra lệnh cho quân lính lấp kín cửa hang.

Trong khi Thạch Sanh tìm lối ra, chàng gặp con Vua Thủy Tề bị nhốt trong cũi gỗ. Chàng đập tan cũi gỗ, cứu thái tử ra. Cuối cùng, hai người cũng tìm được lối thoát. Để cảm tạ ơn cứu mạng, Thái tử mời chàng xuống chơi thủy cung.

Thạch Sanh ở chơi vài ngày rồi ra về. Vua Thủy Tề tặng chàng một cây đàn thần. Chàng trở về cây đa xưa, ban ngày lên rừng kiếm củi, ban đêm mang đàn ra gảy.

Còn công chúa, khi về tới cung đình, thì hóa câm, suốt ngày nằm liệt giường, không ai chữa khỏi.

Một ngày kia, Lý Thông được tin Thạch Sanh đã trở về gốc đa liền sai người ăn trộm vàng bạc của vua mang đến gốc đa giấu để hãm hại chàng. Quân lính tìm đến gốc đa thì thấy tang vật bèn bắt Thạch Sanh giam vào ngục tối.

Ngồi trong ngục, Thạch Sanh buồn tình đem đàn ra gảy, âm thanh vẳng ra lúc thì như ai oán, lúc thì như than vãn, như tức bực, kể hết nỗi lòng của chàng.

Vừa nghe tiếng đàn, công chúa choàng dậy và nói:

─ Tiếng đàn của người cứu con đang thánh thót đâu đây!

Vua lấy làm lạ vì sao tiếng đàn làm cho công chúa nói được. Vua sai quân lính đưa Thạch Sanh đến để hỏi chuyện. Chàng thật thà kể hết chuyện. Nghe xong, vua giận dữ sai bắt Lý Thông tống giam vào ngục tối.

Để đền ơn cho Thạch Sanh, vua gả công chúa cho chàng. Về sau, nhà vua không có con trai nên nhường ngôi cho Thạch Sanh.

CT-26 Ba Người Tài

Ba Người Tài

Có nhà họ Lê kia sinh được một người con gái đẹp nhất trong vùng. Tiếng đồn gần xa nên nhiều mối lái các nơi đến dạm hỏi. Bố mẹ cô gái chỉ trả lời đám người mai mối rằng:

─ Nhà chúng tôi làm ăn bình thường, nên chỉ mong được rể hiền và có tài.

Trong vùng, có ba chàng trai khỏe mạnh đến yết kiến ông họ Lê. Họ mong có thể làm vừa lòng nhà ông họ Lê. Ông họ Lê tìm hiểu cặn kẽ từng người thì được biết: một người có tài bắn giỏi, một người có tài lặn giỏi và một người có nghề gia truyền chữa bệnh, lại có tài làm sống lại cả người đã tắt thở.

Cả ba người cùng có ý xin cầu hôn cô con gái ông họ Lê. Vì vậy, ông phải thử tài từng người.

Ông đưa người có tài bắn giỏi ra vườn, chỉ lên cây thông và nói:

─ Tôi đã đánh dấu vôi vào lá thông trên ngọn cao nhất. Anh hãy bắn một phát để chiếc lá thông có vạch vôi rơi xuống đây.

Chàng trai liền nhấc cánh nỏ. Mũi tên vút lên xuyên thẳng vào nhánh thông um tùm, và lá có dấu vôi trúng tên rơi xuống trước mặt mọi người.

Ông họ Lê đưa người có tài lặn giỏi ra bờ biển và nói:

─ Người trên chiếc thuyền kia đã đánh rơi một chiếc vòng huyền ngọc xuống nước. Anh hãy bơi ra, lặn xuống mò cái vòng ngọc đem vào đây cho tôi.

Anh chàng bơi thẳng ra khơi, lặn ngụp xuống, chỉ sau một lát đã thấy anh nhô đầu lên, tay giơ chiếc vòng ngọc huyền lên. .

Ông họ Lê đưa thầy thuốc giỏi ra chợ, chỉ người ăn mày nằm cong queo vừa mới tắt thở, ông nói:

─ Anh mà cứu sống được người này thì phúc to đấy!

Anh thầy thuốc ra cánh đồng trước mặt ôm về một bọc lá, bỏ vào cối giã nhỏ, vắt lấy nước, đổ nước lá vào miệng người chết. Một lúc sau, người ăn mày liền tỉnh lại và mở mắt, ngồi dậy như người vừa mới tỉnh ngủ.

Ông họ Lê bối rối vì cả ba cùng tài giỏi, không biết gả con gái cho ai. Ông chợt nghĩ: “Hay là ta vào miếu Thành Hoàng gieo quẻ để biết ý trời nên chọn ai làm rể.” Thế là ông lão và ba chàng kén vợ vào miếu Thành Hoàng xin quẻ.

Giữa lúc ấy, người nhà ông chạy đến báo tin cô con gái bị con đại bàng quắp bay đi mất. Nghe xong, mọi người hốt hoảng chạy về. Họ nhìn thấy đại bàng đang quắp cô gái bay trong bóng mây trên mặt biển xa xa.

Nhanh như chớp, chàng thiện xạ giơ cung tên bắn một mũi. Con đại bàng trúng tên rơi xuống biển cùng với cô gái.

Lập tức, chàng lặn giỏi nhảy ngay xuống nước, lặn một hơi ra ôm được cô gái đem vào bờ. Nhưng lên đến bờ, cô gái đã tắt thở.

Không chậm trễ, chàng thầy thuốc đi lấy về một bọc lá, đem giã ra rồi vắt nước đổ vào miệng cô ta. Cô ta nôn thốc hết nước trong bụng ra rồi mở mắt, dần dần hồi tỉnh lại.

Cô gái được cứu sống, cả ba người tài đều kể công. Ba người cãi nhau mãi không xong. Họ đưa nhau lên kêu quan phủ. Quan phủ hỏi đầu đuôi câu chuyện rồi nói:

─ Cả ba người đều có công cứu sống cô gái, nhưng sách có câu: “Trai chưa vợ, gái chưa chồng không được gần gũi nhau.” Vì anh lặn giỏi đã ôm cô gái từ ngoài biển khơi vô bờ, nên hai người phải lấy nhau. Nhưng đối với hai ân nhân kia, vợ chồng anh phải kết nghĩa làm anh em, có thế mới là ăn ở phải đạo.

Ai cũng nghe ra và được lòng. Chàng lặn giỏi được làm rể nhà họ Lê. Ba chàng trai trở nên thân thiết như ruột thịt.

CT-27 Tấm Cám

Tấm Cám

Tấm và Cám là hai chị em cùng cha khác mẹ. Tấm là con vợ cả, Cám là con vợ lẻ. Bố chúng nó đã mất, mẹ Tấm cũng mất luôn. Tấm ở với con Cám và dì ghẻ là mẹ Cám. Ngày ngày Tấm phải đảm đương hết mọi công việc nặng nhọc trong nhà. Trong lúc đó thì Cám được mẹ nuông chiều không phải làm gì, suốt ngày chỉ biết ăn uống rồi đi rong chơi.

Một hôm dì đưa cho mỗi đứa một cái giỏ, bảo đi bắt tôm bắt tép. Dì hứa rằng: “Hễ đứa nào bắt được nhiều thì cho yếm đỏ.”

Hai đứa cùng mang giỏ đi ra đồng. Tấm bắt được nhiều, Cám bắt được ít. Cám bảo rằng: “Chị Tấm ơi chị Tấm, đầu chị lấm, chị hụp cho sâu, kẻo về dì mắng.”

Lúc Tấm hụp xuống thì Cám ở trên bờ trút lấy cả tôm tép của Tấm vào giỏ mình rồi mang về trước. Tấm lên dòm đến giỏ thì thấy mất cả, nó mới khóc hu hu lên.

Bụt hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?” Tấm kể sự tình cho Bụt nghe. Bụt bảo nó coi lại giỏ thì chỉ còn một con bống mà thôi. Bụt mới bảo đem thả con bống xuống dưới giếng mà nuôi; cứ một ngày hai lần, mỗi bữa cơm đáng ba bát thì ăn hai, bớt một bát để cho bống. Lúc đổ cơm xuống giếng thì bảo: “Bống ơi bống! Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.”

Tấm nghe lời Bụt đem thả bống xuống giếng để nuôi.

Không bao lâu, dì ghẻ biết được bèn kiếm cách bắt bống ăn thịt. Một hôm, dì ghẻ bảo Tấm dắt trâu đi chăn ở đồng xa. Tấm vâng lời. Ở nhà hai mẹ con ra giếng bắt lấy bống mang về làm thịt ăn.

Đến bữa, Tấm đem cơm ra cho bống nhưng không thấy bống nữa. Nó khóc òa lên. Bụt lại hiện ra, bảo rằng: “Bống bị ăn thịt rồi. Con về nhà nhặt lấy xương bỏ vào lọ rồi đem chôn dưới giường.”

Tấm nghe lời Bụt, về nhà tìm xương bống. Có một con gà bảo nó rằng: “Cục ta cục tác, cho ta nắm thóc ta bới xương cho.” Tấm lấy thóc ném cho gà. Gà bới một chỗ thì thấy xương ngay. Tấm nhặt lấy bỏ vào lọ rồi đem chôn.

Được ít lâu nhà vua có mở hội. Hai mẹ con Cám sắm sửa để đi xem hội. Mẹ Cám lấy một đấu thóc và một đấu gạo, trộn lẫn với nhau, rồi bắt con Tấm phải lựa riêng ra. Dì ghẻ bảo: “Lúc nào nhặt xong thì mới được đi xem hội, hễ chưa xong thì không được đi.” Nói thế rồi hai mẹ con nó đi. Tấm ở nhà khóc.

Bụt lại hiện lên an ủi nó: “Để ta cho một đàn chim sẻ xuống nhặt đỡ.” Đến khi lựa riêng xong rồi, Tấm lại khóc: “Con không có quần áo đẹp để đi xem hội.” Bụt bảo rằng: “Con đi đào những cái lọ đã chôn ở dưới giường lên.” Tấm mới đào lên, thì thấy quần áo, một đôi giày và một con ngựa. Tấm mừng quá, liền thay quần áo rồi đi xem hội.

Dự hội xong, lúc Tấm đi qua bờ hồ, đánh rơi chiếc giày, không sao lấy lên được.

Một lát sau, vua ngự đến gần đấy. Voi đứng dừng lại kêu rầm rĩ. Vua thấy sự lạ mới phán cho quân lính phải xuống hồ, xem có gì lạ không. Tức khắc lính xuống hồ, mò thấy một chiếc giày thêu đẹp lắm.

Vua phán cho tất cả con gái đi xem hội ướm thử. Hễ chân ai đi vừa thì vua lấy làm vợ. Trong đám hội ai cũng ướm cả; cả mẹ con Cám cũng chẳng từ. Nhưng chẳng có chân ai vừa. Tấm cũng xin ướm thử. Dì nó mắng rằng: “Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh bỏ ngoài bờ tre.” Đến lúc Tấm ướm thì vừa vặn. Vua bèn sai lính thị vệ đem ngay kiệu rước Tấm về cung. Thế là Tấm trở thành hoàng hậu.

CT-28 Chàng Rể Tinh Ranh

Chàng Rể Tinh Ranh

Phú ông kia có một cô con gái xinh đẹp. Trong vùng, nhiều người muốn được làm rể phú ông. Phú ông ra lời thách:

─ Trong bốn chợ phiên, ai làm cho ta nổi giận được thì ta gả con gái cho.

Có nhiều chàng trai đến xin thi và chưa có ai trót lọt cả.

Một hôm có một anh chàng ăn mặc lôi thôi, bộ dạng lờ đờ đến ra mắt phú ông và nói:

─ Tôi muốn được làm con rể của ông.

Và chàng đề nghị:

─ Ông với con vào rừng săn heo rừng về làm thức nhắm.

Nghe nói đi săn heo rừng, phú ông thích lắm. Phú ông nói:

─ Nhà tao không có chó săn.

─ Thưa ông, lần này con xin làm chó.

Hai người xách hai con heo rừng về nhà. Phú ông bảo:

─ Mày đi làm thịt heo rừng và đi mua rượu.

─ Con là chó. Chó không làm thịt hoặc đi mua rượu được.

Cuối cùng, phú ông đành làm một mình. Phú ông ra chợ mua rượu, khi trở về nhà chỉ còn lại đống xương. Phú ông hỏi:

─ Mày có để phần cho ta miếng nào không?

─ Bẩm ông, chó thì không biết để phần cho ai. Ông đã giận con chưa?

─ Tao chưa thấy giận.

Một hôm khác, hai người lại đi săn. Lần này đến lượt phú ông nhận làm chó. Anh chàng nhằm bụi nhiều gai rồi dồn chó vào đánh hơi. Phú ông trù trừ sợ gai, anh chàng phết luôn hai roi vào mông phú ông và quát:

─ Mau lên! Làm chó thì phải biết chui rúc chứ!

Phú ông bị mấy roi đau quá, nên phải chui vào. Lúc chui ra, phú ông bị chảy máu mặt vì gai đâm.

─ Ông có giận con không?

─ Không, không. Chưa, chưa.

Buổi săn ấy được một con heo rừng. Anh chàng làm thịt, nướng chả rồi bảo phú ông ra chợ mua rượu. Phú ông đáp:

─ Chó không biết đi mua rượu đâu.

Anh chàng bèn trói phú ông vào cột nhà và nói:

─ Chó là chúa ăn vụng, phải trói lại mới được.

Mua rượu về, anh chàng đánh chén uống rượu. Thỉnh thoảng anh ném mấy miếng xương cho phú ông. Ăn xong, anh mở trói cho phú ông và hỏi:

─ Ông đã giận con chưa?

─ Chưa.

Một hôm, anh bàn:

─ Ông với con đi buôn, con bỏ vốn, ông phụ việc, được lãi thì chia đôi. Chiều mai gánh hàng về con để ở đầu làng, ông cứ ra mà gánh nhé!

Hôm sau, phú ông ra chỗ hẹn gánh đôi bồ nặng trĩu về nhà. Ông mở bồ ra. Một bên đựng đầy đá. Bên kia thì anh chàng trời đánh ngồi ở trong. Anh chàng hỏi:

─ Ông đã giận con chưa?

─ Giận mày thì tao mất vui, chưa giận đâu.

Chỉ còn hai hôm nữa là hết hạn thách hỏi. Anh lo lắm. Sáng sớm, anh quảy đôi sọt đi, một lát chạy về gọi rối rít:

─ Ông ơi! Con bắt được con phượng hoàng đất to lắm, đẹp lắm. Ông ra giữ hộ con.

Phú ông ra ngay. Phú ông phủ phục xuống, ôm chặt cái sọt có chặn hòn đá to. Tình cờ có đám rước quan đại thần đi qua. Thấy một người nằm giữa đường ôm khư khư cái sọt, quan đại thần hỏi:

─ Ngươi làm gì thế này?

─ Bẩm quan, trong sọt có con phượng hoàng đất.

Quan đại thần liền sai lính lấy lưới chăng bắt ngay, nhưng chẳng có con chim nào mà chỉ thấy một bãi phân trâu. /p>

Quan tức mình sai lính đánh cho phú ông một trận nên thân. Lúc ấy, anh chàng mới chạy ra đỡ phú ông dậy rồi hỏi:

─ Ông có giận con không?

Phú ông cứ rên ư ử:

─ Mày làm tao suýt mất đầu. Tao giận mày lắm lắm.

Thế là anh chàng nghèo lấy được con gái phú ông. Đám cưới được tổ chức thật linh đình. Cả làng nô nức đi xem như đi hội.

CT-29 Trả Ơn, Trả Oán

Trả Ơn, Trả Oán

Ngày xưa có một đôi vợ chồng trẻ rất thương yêu nhau, chẳng may vợ bị ốm rồi chết. Từ lúc vợ chết, người chồng trở nên túng bấn hơn. Anh phải đi làm thuê. Chỉ mới làm được một ngày thì anh đã thấy nhọc mệt và bị chủ la mắng nhục nhã. Anh bỏ việc và quyết định làm nghề đi câu.

Sáng hôm sau, anh ra ngồi ở bờ sông câu cá, vừa thả cần câu xuống cá đã mắc mồi ngay. Anh giật lên không phải con cá mà là con rắn nước. Anh gỡ con rắn quẳng xuống sông.

Xế trưa anh lại giật cần câu lên, vẫn là con rắn nước. Anh lại thả rắn xuống nước. Bỗng rắn nói:

─ Tôi là con vua Thủy Tề. Thấy anh là người nhân hậu tôi muốn kết bạn với anh. Tôi sẽ giúp anh vượt qua cảnh nghèo.

Từ đó, anh với rắn trở thành đôi bạn. .

Một hôm rắn bảo:

─ Sắp có cơn bão lớn thổi qua. Nước sẽ dâng lụt cả vùng. Anh phải đóng bè mà tránh đi.

Bão đến, rồi bão qua nhưng nước vẫn chưa rút hẳn. Những con kiến, con chuột, con trăn đang lờ đờ chìm nổi trong nước. Rắn trông thấy và nói với anh:

─ Hãy cứu những con vật kia.

Và anh đã vớt những con vật đó lên bè.

Cùng lúc ấy thấy phía xa có một người bám vào mảnh ván sắp bị chìm, anh liền đẩy bè ra cứu.

Thế là người và vật đã thoát nạn. Các con vật thầm cảm ơn người và rắn đã cứu chúng rồi đi về tổ của mình. Còn người kia xin ở lại làm em kết nghĩa.

Ngày tháng trôi qua, đến lúc con rắn nước trở về thủy cung, nó mời anh cùng đi theo. Ở thủy cung, vua Thủy Tề tặng anh cây đàn thần, khi gảy có thể làm cho giặc phải tan. Về đến nhà anh kể chuyện cho người em kết nghĩa nghe về cây đàn thần.

Một hôm, vì có việc nên anh phải đi xa. Không ngờ, ở nhà, người em kết nghĩa lấy trộm cây đàn rồi trốn đi.

Bấy giờ ngoài bờ cõi quân giặc đang quấy nhiễu. Nghe tin ấy, hắn vào xin vua cho mình lập công. Nhờ có chiếc đàn thần, hắn đã diệt được giặc. Lúc hắn thắng trận trở về, vua phong cho hắn làm tướng, lại định gả công chúa. Nhưng bỗng dưng công chúa bị ốm nặng, rồi mắt lòa, lại câm điếc.

Khi trở về anh chàng thấy cây đàn thần đã biến mất. Anh bèn đi khắp nơi tìm kiếm.

Một ngày kia, vào đến kinh đô, anh gặp đám quân lính đang dẹp đường cho quan đi. Trên kiệu hoa, thấy ông quan uy nghi chính là người em kết nghĩa, anh gọi réo lên. Kẻ bất nhân ấy cũng nhận ra anh. Hắn giật mình, lập tức cho quân bắt trói và tống anh vào ngục.

Trong ngục âm u, anh bỗng nghe có tiếng hỏi:

─ Sao anh bị giam vào đây? Chúng tôi là đàn kiến được anh cứu sống. Để chúng tôi đi báo chú Chuột và bác Trăn tìm cách giúp anh. .

Nghe đàn kiến báo tin, Trăn liền nhả ra một viên ngọc và nói:

─ Ân nhân của chúng ta bị nạn. Chú Chuột hãy mang viên ngọc này đưa cho ân nhân, bảo rằng hãy mài ngọc cho công chúa uống thì sẽ khỏi bệnh.

Sau khi anh nhận được viên ngọc quý, anh xin cai ngục vào cung để chữa bệnh cho công chúa. Cai ngục tâu lên vua. Nhà vua lo cho bệnh tình của công chúa nên bằng lòng cho anh vào cung.

Sau khi mài ngọc, anh đưa cho công chúa uống cạn. Lập tức đôi mắt lại sáng lên, tai lại thính và miệng nói năng như xưa. Nhà vua mừng quá, hỏi lai lịch anh. Anh thật thà kể hết. Nghe xong, nhà vua tức giận bèn sai quân lính đi bắt giam tên đại tướng bất nghĩa kia và tống vào ngục chờ ngày xét xử.

Sau đó nhà vua gả công chúa cho anh, và họ sống một cuộc đời hạnh phúc.

CT-30 Của Thiên Trả Địa

Của Thiên Trả Địa

Ngày xưa, có hai anh chàng mồ côi làm nghề cày thuê cuốc mướn ở cùng chung một làng. Một người tên là Thiên, người kia tên là Địa.

Thiên rất sáng dạ và tinh khôn, học gì hiểu nấy, còn Địa thì không được thông minh như bạn, nhưng bản tính hiền lành và không làm mích lòng ai bao giờ.

 

 

Một hôm, Địa nói với Thiên rằng:

─ Từ nay anh khỏi cần đi làm nữa, cứ chú tâm học hành. Tôi sẽ gắng sức làm thêm để lấy tiền nuôi anh ăn học. Sau này anh thành tài, thi đậu làm quan to, thì đừng quên tôi nhé!

Thiên liền trả lời:

─ Làm sao mà quên được công sức của anh. Tôi là người chứ có phải là con vật đâu!

Thế rồi kể từ ngày đó Địa tận lực đêm ngày làm thuê để nuôi bạn ăn học. Sau mười năm đèn sách, Thiên đậu trạng nguyên và được nhà vua bổ làm quan.

Được tin bạn mình thành đạt, Địa rất sung sướng. Anh bèn bán ngôi nhà đang ở, lấy tiền mua đồ lễ tìm vào dinh của bạn. Khi Địa tìm đến nơi thì Thiên không muốn nhận lại bạn cũ nữa. Hắn còn dặn quân canh cửa không cho Địa vào.

Địa bị đuổi nên tủi thân, lủi thủi ra về. Đến bờ sông, anh ngồi nghỉ. Ngẫm nghĩ số phận hẩm hiu của mình, anh định gieo mình xuống sông tự vẫn. Thấy thế, Bụt liền hiện lên hỏi anh:

─ Làm sao mà con khóc vậy?

Địa nghe Bụt hỏi thì kể lại đầu đuôi mọi việc. Bụt liền hóa phép cho anh một chiếc đò và dặn rằng:

─ Con cứ ở đây chở khách qua lại trên sông này cũng đủ ăn rồi, khỏi phải đi làm thuê nữa.

Từ đấy, mỗi ngày Địa chống đò ngang đưa khách sang sông.

Một hôm, Địa nghe có tiếng gọi đò của một cô gái ở bờ bên kia. Anh chèo đò qua để rước. Khi lên bờ, cô gái nói với Địa:

─ Thú thật với chàng, thiếp là tiên nữ trên thiên đình. Trời thấy chàng tử tế mà lại chịu khổ sở quá nên cho thiếp xuống trần để giúp chàng qua cơn vận hạn. Thiếp sẽ là vợ chàng.

Nói xong, nàng liền giơ tay hóa phép, biến túp lều của Địa thành một ngôi nhà nguy nga tráng lệ, trong nhà có cả kẻ hầu người hạ từng đoàn, không thiếu thứ gì. Địa vừa kinh ngạc vừa vui sướng trong lòng.

Đến ngày giỗ cha của Địa, nàng tiên lại hóa phép cỗ bàn linh đình để anh làm giỗ cúng cha rồi bảo:

─ Chàng hãy bảo gia nhân khiêng kiệu đến mời anh Thiên sang ăn giỗ.

Nghe nhắc đến Thiên, Địa vẫn còn chưa nguôi nỗi buồn, không muốn đi. Nhưng chiều vợ, anh lên kiệu đến dinh cơ của Thiên mời sang ăn giỗ.

Thiên thấy Địa giàu nên hắn quyết định đến xem cho rõ sự tình. Đến nơi, hắn rất lấy làm lạ khi thấy nhà cửa của Địa sang trọng ít ai bì kịp. Khi Địa đưa vợ ra giới thiệu, thấy nàng vừa đẹp vừa sang, hắn đâm ra ganh tị với Địa. Hắn nói:

─ Anh đổi vợ cùng cơ nghiệp này cho tôi thì tôi sẵn sàng nhường chức quan cùng dinh cơ của tôi cho anh.

Địa không muốn, nhưng nàng tiên nói nhỏ vào tai chồng, xúi anh chấp nhận. Mọi việc nàng sẽ lo liệu.

Thế là sẵn có cụ lý trưởng sang ăn giỗ, hai bên liền làm tờ giao ước.

Giấy tờ giao ước đâu đó xong xuôi thì Địa gạt nước mắt giã biệt người vợ tiên, lên võng về dinh cơ của Thiên mà tâm trạng rối bời.

Còn Thiên thì quá say rượu nên nằm ngủ một giấc li bì. Sáng hôm sau tỉnh dậy, hắn ngơ ngác nhìn quanh thì thấy mình đang nằm trong một túp lều tồi tàn bên sông, bên cạnh là tờ giao ước với Địa. Tất cả đã biến mất.

Ngày nay, mỗi khi người ta muốn ám chỉ việc những kẻ làm ăn bất nghĩa phải trả giá thì họ thường hay nói câu “Của Thiên trả Địa” là do sự tích câu chuyện này mà ra.

CT-31 Lấy Vợ Con

Lấy Vợ Con

Có nhà phú ông kia hiếm hoi, mãi đến khi luống tuổi, người vợ mới có mang. Đến ngày trở dạ thì người vợ lại sanh ra một con Cóc. Người chồng buồn bực chực mấy lần ném Cóc ra ngoài ruộng. Cóc như hiểu ý và nói với bố:

─ Bố đừng vứt con ra ruộng mà tội nghiệp con. Mai kia con lớn con cũng biết làm được việc nhà đỡ bố mẹ.

Nghe Cóc nói thế, bố mẹ đỡ tủi lòng và càng thương Cóc nhiều hơn.

Trong vùng ấy, có một người học trò mồ côi nhà nghèo nhưng rất có chí. Một buổi khi tan học, anh đi qua ruộng lúa nhà phú ông, ngắt một bông để cắn trắt. Bỗng có tiếng nói trong trẻo cất lên:

─ Anh đồ ơi, không được ngắt lúa nhà em.

Anh đồ nhìn xuống ruộng lúa thì thấy một con Cóc ngồi trên tảng đá. Cô nhìn anh và nói:

─ Xin anh đừng ngắt lúa nhà em nữa.

Từ đấy, mỗi lần qua ruộng lúa, anh đứng lại nói chuyện với Cóc.

Thế là anh học trò phải lòng cô Cóc. Một ngày kia, anh nhờ bà mối đến hỏi xin nhà phú ông cho anh lấy Cóc làm vợ.

Vợ chồng phú ông ngỡ ngàng, tưởng như nghe lầm. Phú ông thấy anh là người có chí, nên nhận lời ngay. Chẳng bao lâu, tới ngày lành tháng tốt, đám cưới của anh học trò lấy vợ Cóc được tổ chức thật linh đình.

Thấy anh lấy vợ Cóc, bạn bè cùng học với anh tỏ vẻ khinh miệt. Một hôm, nhà thầy có giỗ, đám học trò muốn chơi xỏ anh, liền đề xướng là mỗi người nấu một món ăn mang đến biếu thầy.

Anh lo lắm, liền về nói với vợ. Vợ Cóc bảo:

─ Em sẽ nấu một bát canh cá lăng để anh mang biếu thầy.

Hôm sau, anh thấy trên bàn có một bát canh cá lăng, khói thơm nghi ngút. Anh bưng bát cá đến nhà thầy. Thầy nếm thử rồi khen:

─ Món canh cá lăng là món ngon nhất của bữa cỗ ngày hôm nay.

Đám bạn bè càng ganh tị, xúm lại nghĩ thêm các trò ác ý khác.

Đến dịp thầy đồ làm lễ thượng thọ, học trò mỗi người may một bộ áo mừng thầy, nhưng trước khi may không được đo.

Anh học trò về nói với vợ. Vợ Cóc trả lời:

─ Anh yên tâm. Ngày mai, em sẽ may xong.

Hôm sau, vợ Cóc hóa thành con muỗi đậu trên lưng áo chồng theo đến nhà thầy. Đến nơi, nàng bay sang đậu ở áo ông thầy. Chỉ trong nháy mắt, nàng đã đo được mọi kích thước.

Giữa trưa, chàng về nhà, thấy trên án thư đã gấp nếp một bộ áo tơ vàng mới nguyên. Chàng mang bộ áo lụa đến nhà thầy, đúng lúc mọi người đưa áo mới để thầy ngắm, thầy thử. Tất cả các bộ thầy mặc đều rộng quá hoặc ngắn quá. Riêng bộ áo tơ vàng của chàng thì thầy ưng ngay, mặc vừa như in. Lụa vàng sáng, người già mặc càng đẹp lão. Thầy tấm tắc khen hết lời. Mọi người đều phải khen theo thầy, nhưng trong bụng thì ấm ức.

Đầu năm mới, nhà thầy làm cỗ mừng xuân thết đãi học trò. Người trưởng đám giao hẹn:

─ Mỗi nhà, cả hai vợ chồng phải cùng đến mừng tuổi thầy.

Về nhà, anh liền kể lại hết nỗi lo với vợ. Vợ Cóc nói ngay:

─ Tết em sẽ đi với anh đến nhà thầy.

Đúng hôm Tết, anh chờ đám bạn bè đi hết mới dám ra khỏi nhà cùng với vợ Cóc. Anh đi trước, vợ Cóc lạch bạch nhảy theo sau.

Sắp đến cổng nhà thầy, bên đường có một bụi mía um tùm, tự dưng vợ Cóc nhảy vào bụi mía. Một lát sau, trong vòm lá mía, một cô gái nước da trắng như ngọc, đôi mắt sáng ngời từ từ bước ra. Cô thánh thót nói với chồng:

─ Là em đây.

Thế là vợ chồng sánh bước vào nhà thầy. Cả đám học trò ai cũng kinh ngạc tròn xoe mắt. Hóa ra vợ Cóc lại là một giai nhân tuyệt sắc mà cả đám vợ các học trò đều không ai có thể sánh được.

CT-32 Trọng Nghĩa Khinh Tài

Trọng Nghĩa Khinh Tài

Khi xưa ở Thanh Hóa, có một người phú hộ tên là Nguyễn Đình Phương. Ông là người hào hiệp, nên khi có ai túng thiếu đến nhờ vả, ông sẵn lòng chu cấp hay cho vay mượn. Ông có một người bạn cố tri tên là Trần Bính Cung, làm nghề buôn gỗ. Gia đình Bính Cung rất nghèo nên thường được Đình Phương giúp đỡ và cho vay mượn tiền.

Một hôm, Bính Cung bị bệnh nặng nằm liệt giường. Biết mình sắp chết, Bính Cung cho mời bạn tới và nói:

─ Tôi nợ của anh một số tiền lớn mà chưa trả. Ngôi nhà này coi như là gán món nợ ấy. Xin anh tiếp tục giúp đỡ gia đình tôi.

Đình Phương liền nói:

─ Anh đừng nói thế! Tình nghĩa mới là cái đáng quý, còn tiền bạc nào có nghĩa lý gì. Sau này, dù có thế nào đi nữa, tôi cũng xin gắng sức giúp đỡ gia đình anh.

Sau khi Bính Cung qua đời, Đình Phương tỏ ra là người giữ lời hứa của mình. Ông bỏ tiền ra làm đám tang cho bạn chu đáo và còn sốt sắng giúp đỡ gia đình bạn. Làng xóm đều khen ngợi việc làm của ông.

Nhưng dần dà sự giúp đỡ của Đình Phương cứ thưa bớt đi. Một hôm, khi gặp mặt Đình Phương, bà Bính Cung nói:

─ Mẹ con chúng tôi đói no là nhờ bác. Mong bác rộng tay giúp đỡ cho chúng tôi.

Đình Phương nghe vậy liền vội vàng từ chối:

─ Làm sao có thể lo cho gia đình chị mãi được? Không khéo tôi phải bán ngôi nhà của chị để trang trải vài món nợ nữa đấy!

Nghe nói vậy bà Bính Cung đành gạt nước mắt ra về và kể lại sự tình cho mọi người trong nhà nghe.

Cả nhà ngồi lại khóc rấm rứt. Đúng lúc đó thì có một ông lão lối xóm chạy đến hỏi chuyện. Bà Bính Cung kể lại đầu đuôi từ lúc tình bạn đậm đà, cho đến những câu trả lời tuyệt tình vừa rồi của Đình Phương.

Nghe bà khóc, ông lão hỏi:

─ Bà và các cháu đây có biết dệt vải không? Nếu bà quyết chí thì tôi xin truyền cái nghề này cho bà. Còn vốn liếng thì tôi sẽ cố giúp, sau này bà khá giả sẽ hoàn lại cũng được.

Bà Bính Cung không ngờ một lão thợ dệt sồi ở xóm lại tỏ ra hào hiệp hơn Nguyễn Đình Phương. Ông xuất tiền mua khung cửi và mọi đồ nghề khác để cho bà học dệt. Chẳng mấy chốc họ đã có vải đem ra chợ bán và dành dụm được tiền đem đi chuộc lại căn nhà. Họ lờ hẳn Đình Phương, coi như người xa lạ.

Tám năm trôi qua, một hôm, nhà Bính Cung chuẩn bị lễ cưới cho người con gái. Giữa lúc tiệc cưới vui vẻ, bà Bính Cung thấy bóng ai quen đứng trước cửa. Bà liền tiến ra cửa, thì ra đó là Nguyễn Đình Phương. Bà thầm nghĩ:

─ Chẳng hiểu gã bạn bất nghĩa này còn đến đây làm gì nhỉ?

Tuy vậy, vì lịch sự và đang có khách nên bà Bính Cung cũng ra đón ông và chua chát nói:

─ Bác hôm nay cũng đến đây ư? Tôi tưởng rằng bác quên chúng tôi đã lâu rồi.

Đình Phương vẫn từ tốn cười mà không trả lời.

Đúng lúc đó thì ông lão ân nhân đã bước ra nói nhỏ vào tai bà:

─ Bà đừng vội nóng. Tất cả vốn liếng mà tôi giúp bà đều là tiền bạc của ông Phương đây cả.

Bà Bính Cung nghe nói thế thì quay lại nhìn chăm chăm vào mặt Đình Phương, miệng ú ớ:

─ Trời ơi, thế mà lâu nay tôi không nghĩ ra...

Đoạn bà gọi các con lại để tạ ơn vị ân nhân đã giúp gia đình bà vượt qua cảnh khốn cùng. Song Đình Phương xua tay gạt đi:

─ Ấy, xin chị và các cháu đừng như thế. Tôi vẫn nhớ lời hứa với anh nhà trước lúc nhắm mắt. Trên đời này không có gì đáng quý bằng chữ “Nghĩa” mà.

CT-33 Sự Tích Trầu Cau

Sự Tích Trầu Cau

Thời xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai sinh đôi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh ai là em. Người anh tên là Tân và người em tên Lang. Năm hai anh em mười bảy mười tám tuổi thì cha mẹ đều chết cả. Hai anh em vốn đã thương yêu nhau, nay gặp cảnh hiu quạnh, lại càng yêu thương nhau hơn trước.

2

Tân và Lang đến xin học ở nhà họ Lưu. Thầy Lưu có một cô con gái tuổi chừng mười sáu mười bảy, xinh đẹp nhất vùng. Thấy hai anh em họ Cao hiền lành, người con gái đem lòng yêu mến, muốn kén người anh làm chồng, nhưng không biết ai là anh, ai là em.

Một hôm, nhân nhà nấu cháo, người con gái lấy một bát cháo và một đôi đũa mời hai người ăn. Thấy người em nhường người anh ăn, người con gái mới nhận được ai là anh, ai là em. Sau đó, người con gái nói với cha mẹ cho phép mình lấy người anh làm chồng.

Tuy Tân đã có vợ, hai anh em vẫn đối xử với nhau thắm thiết như xưa. Một hôm hai anh em cùng lên nương, tối mịt mới về. Lang vào nhà trước; chàng vừa bước chân qua ngưỡng cửa thì người chị dâu ở trong buồng chạy ra, lầm chàng là chồng mình, vội ôm chầm lấy. Lang liền kêu lên, cả hai đều xấu hổ. Giữa lúc ấy, Tân cũng bước vào nhà. Lang rất buồn vì sợ anh hiểu lầm mình.

Một buổi chiều, anh chị đều đi vắng cả, Lang quyết định ra đi để tránh sự hiểu lầm. Chàng đi, đi mãi cho đến khu rừng phía trước mặt, rồi theo đường mòn đi thẳng vào rừng âm u. Trời bắt đầu tối mà chàng vẫn cứ đi. Ði đến một con sông rộng, chàng không lội qua được, đành ngồi nghỉ bên bờ. Chàng khóc suốt đêm. Sương xuống mỗi lúc một nhiều. Sương lạnh thấm dần vào da thịt chàng. Chàng chết mà vẫn ngồi trơ trơ, biến thành một tảng đá vôi.

Tân cùng vợ về nhà, không thấy em đâu, lẳng lặng đi tìm, không nói cho vợ biết. Theo con đường mòn vào rừng, chàng đi mãi, đi mãi, và sau cùng đến con sông đang chảy cuồn cuộn. Không thể lội qua được, chàng đành ngồi bên bờ suối, tựa mình vào một tảng đá vôi. Chàng có ngờ đâu chính tảng đá vôi là em mình! Chàng rầu rĩ khóc than hồi lâu, ngất đi và chết cứng, biến thành cây cau, mọc thẳng bên tảng đá vôi.

Ở nhà, vợ không thấy chồng đâu, vội đi tìm và cũng theo con đường mòn đi vào rừng thẳm. Nàng đi mãi, bước thấp bước cao, rồi cuối cùng gặp con sông nước sâu. Nàng không còn đi được nữa. Nàng ngồi tựa vào gốc cây cau mọc bên tảng đá vôi, vật mình than khóc. Nàng có ngờ đâu nàng đã ngồi tựa vào chồng mình và sát đó là em chồng. Ðêm ngả dần về sáng, sương xuống càng nhiều, mù mịt cả núi rừng, nàng vật vã khóc than. Nàng chết đi biến thành một dây trầu quấn chặt lấy cây cau mọc bên tảng đá vôi.

Về sau chuyện ấy đến tai mọi người, ai nấy đều thương xót. Một hôm, vua Hùng đi qua chỗ ấy, nhân dân đem chuyện ba người kể lại cho vua nghe. Vua bảo thử lấy lá trầu và lấy quả cau nghiền với nhau xem sao, thì thấy mùi vị cay cay. Nhai thử, thấy thơm ngon và nhổ nước vào tảng đá vôi thì thấy bãi nước biến dần ra sắc đỏ. Từ đấy, người dân thường lấy vôi ăn với trầu cau, cho miệng thơm, môi đỏ.

Tình duyên của ba người tuy đã chết mà vẫn keo sơn, thắm thiết, cho nên trong mọi sự gặp gỡ của người Việt Nam, miếng trầu bao giờ cũng là đầu câu chuyện, để bắt đầu mối lương duyên. Khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, tục ăn trầu đã trở nên tục cố hữu của dân tộc Việt Nam.

CT-34 Cóc Kiện Trời

Cóc Kiện Trời

Ngày xưa, mấy năm liền, trời hạn hán khủng khiếp, hết tháng này đến tháng khác. Cây cối bị thiêu cháy. Sông ngòi, đầm hồ đều cạn. Muôn loài không còn một giọt nước để uống. Không ai nghĩ được kế gì để cứu mình, cứu muôn loài. Duy có anh chàng Cóc tía bé nhỏ, xấu xí là có gan to. Anh tính chuyện lên thiên đình kiện Trời làm mưa cứu muôn loài.

Lúc đầu chỉ có một mình nhưng anh không nản. Ði qua một vũng đầm khô, Cóc tía gặp Cua càng. Cua hỏi Cóc đi đâu. Cóc bèn kể rõ sự tình và rủ Cua cùng đi kiện Trời. Ban đầu Cua định bàn ngang, thà chết ở đây còn hơn chứ Trời xa thế đi sao tới mà kiện. Những con vật ở chung quanh nghe Cóc nói lại tranh nhau mà bàn cãi làm cho Cua nổi giận. Thế là Cua làm ngược lại. Cua tình nguyện cùng đi với Cóc.

Ði được một đoạn, Cóc gặp Hổ đang thở thoi thóp và Gấu đang khát cháy họng. Cóc rủ Gấu và Hổ đi kiện Trời. Hổ còn lưỡng lự thì Gấu đã gạt đi mà nói rằng:

─ Anh Cóc nói có lý. Ðến ngang như anh Cua còn theo anh Cóc thì tại sao chúng mình không theo?

Cả bọn nhập lại thành đoàn. Ði thêm một chặng nữa thì gặp đàn Ong đang khô mật và con Cáo bị lửa nướng cháy xém lông. Cả hai con vật này cũng hăng hái nhập vào đoàn loài vật đi kiện Trời.

Cóc dẫn các bạn đi mãi, đi mãi đến tận cửa thiên đình. Đứng trước cửa Trời oai nghiêm, bọn Cọp, Gấu, Cáo, Ong và Cua đều sợ. Duy chỉ có Cóc là gan liền dõng dạc ra lệnh:

─ Các anh hãy nghe lời tôi. Kia là chum nước của Trời, anh Cua vào nấp trong ấy. Anh Cáo nấp ở phía bên trái tôi, anh Gấu nằm ở phía bên phải tôi, còn anh Cọp chịu khó nằm đằng sau tôi. Các anh có nghe tôi thì mới thắng được Trời.

Sắp đặt xong đâu đấy Cóc mới nhảy lên mặt trống đánh ba hồi trống ầm vang như sấm động. Ngọc Hoàng đang ngủ trưa bị tiếng trống đánh thức dậy nên bực tức, sai Thiên Lôi ra xem. Ra tới cửa, Thiên Lôi ngạc nhiên vì chỉ thấy mỗi một con Cóc xù xì xấu xí đang ngồi chễm chệ trên mặt trống của nhà Trời. Thiên Lôi bèn vào tâu Ngọc Hoàng. Ngọc Hoàng nghe xong bực lắm bèn sai con Gà trời bay ra mổ chết chú Cóc hỗn xược kia. Gà trời vừa hung hăng bay ra thì Cóc đã nghiến răng ra hiệu; lập tức Cáo nhảy ra cắn cổ Gà tha đi mất.

Thấy thế, Ngọc Hoàng càng giận giữ sai Chó nhà trời xổ ra cắn Cáo. Chó vừa xồng xộc chạy ra thì Cóc lại nghiến răng ra hiệu. Lập tức Gấu nhảy xổ ra đón đường tát cho Chó một đòn trời giáng. Chó chết tươi.

Ngọc hoàng bèn sai Thiên lôi ra trị tội Gấu. Thiên lôi vừa vác búa tầm sét ra đến cửa thiên đình thì Cóc đã nghiến răng ra lệnh. Lập tức đàn Ong bay vù ra và đốt Thiên Lôi. Bị Ong đốt, Thiên Lôi vội vàng vứt cả búa tầm sét nhảy ùm vào chum nước chạy trốn. Nào ngờ Cua càng đang nấp trong chum nước, giương đôi càng kẹp chặt lấy cổ Thiên Lôi. Thiên Lôi đau quá gào thét vùng vẫy vỡ cả chum nước. Thiên Lôi tìm đường chạy trốn thì Cóc tía lại nghiến răng ra lệnh. Lập tức Hổ nấp sau Cóc tía nhảy bổ ra gầm lên một tiếng vang động làm Thiên Lôi bất tỉnh tại chỗ.

Ngọc Hoàng thấy thế sợ quá bèn xin giảng hòa và tôn cóc làm cậu mình. Cóc lên giọng:

─ Ðã bốn năm nay ở dưới trần gian hạn hán, không một giọt mưa. Xin Ngọc Hoàng làm mưa ngay cho trần gian được nhờ.

Ngọc Hoàng ngượng ngùng:

─ Cóc với ta nay đã là chỗ thân thích, ta sẽ làm theo ý cậu. Khi muốn ta làm mưa, cậu chỉ cần nghiến răng là ta nghe thấy liền.

Ngọc hoàng bèn sai rồng đen bay xuống phun mưa và đưa Cóc cùng các bạn về hạ giới. Từ đó, hễ Cóc nghiến răng là trời lập tức đổ mưa nên có câu đồng dao:

Con Cóc là cậu ông Trời,

Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho.

CT-35 Sọ Dừa

Sợ Dừa

Ngày xưa, có hai vợ chồng nghèo đi ở đợ cho một nhà phú ông. Họ đã ngoài năm mươi mà vẫn chưa có con. Một hôm trời nắng, người vợ vào rừng hái củi, thấy cái sọ dừa bên gốc cây đựng đầy nước mưa, bèn bưng lên uống. Thế rồi bà có mang.

Chẳng bao lâu, người chồng mất. Bà sinh ra một đứa bé không chân không tay, tròn như một quả dừa. Bà buồn lắm, toan vứt đi. Nhưng nghĩ lại, thấy thương con, bà đành giữ con lại nuôi và đặt tên cho nó là Sọ Dừa.

Lớn lên, Sọ Dừa vẫn cứ lăn lông lốc trong nhà. Một hôm, nghe mẹ than phiền rằng mình vô tích sự, Sọ Dừa bèn thưa với mẹ:

─ Mẹ đến xin phú ông cho con chăn bò.

Nghe con giục, bà mẹ đến hỏi phú ông. Phú ông ngần ngại, nhưng cuối cùng cũng ưng thuận. Thế là Sọ Dừa đến ở nhà phú ông. Hằng ngày, Sọ Dừa lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về chuồng. Ngày nắng cũng như ngày mưa, bò con nào con nấy bụng no căng. Phú ông mừng lắm.

Phú ông có ba cô con gái thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị ác nghiệt thường hắt hủi Sọ Dừa; còn cô em út hiền lành, đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế.

Một hôm, cô út đến chân đồi thì nghe tiếng sáo véo von. Cô lấy làm lạ, rón rén bước tới, nấp sau bụi cây rình xem, thì thấy có một chàng trai khôi ngô đang thổi sáo. Bỗng dưng có tiếng động, chàng trai biến mất, chỉ thấy Sọ Dừa nằm lăn lóc ở đấy. Nhiều lần như thế, cô gái biết Sọ Dừa không phải người phàm trần. Cô đem lòng yêu, có của ngon vật lạ đều giấu đem cho chàng.

Cuối mùa ở, Sọ Dừa về giục mẹ đến hỏi con gái phú ông làm vợ. Bà mẹ hết sức sửng sốt, nhưng thấy con năn nỉ cũng chiều lòng, đành kiếm buồng cau mang đến nhà phú ông. Phú ông cười mỉa:

─ Được! Muốn hỏi con gái ta, hãy về sắm đủ một chỉnh vàng cốm, mười tấm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm đem sang đây.

Bà mẹ về nói với Sọ Dừa, nghĩ là con thôi hẳn việc đòi lấy vợ. Không ngờ Sọ Dừa bảo với mẹ rằng sẽ có đủ những thứ ấy.

Ðúng ngày hẹn, trong nhà tự nhiên có đầy đủ sính lễ, lại có cả gia nhân khiêng lễ vật sang nhà phú ông. Phú ông gọi ba cô con gái ra, hỏi từng người một. Hai cô chị bĩu môi, chê bai. Còn cô út e lệ, tỏ ý bằng lòng. Phú ông đành gả cô út cho Sọ Dừa.

Ngày cưới, trong nhà Sọ Dừa cỗ bàn thật linh đình, gia nhân chạy ra chạy vào tấp nập. Ðúng lúc rước dâu, không ai thấy Sọ Dừa đâu cả chỉ thấy một chàng trai khôi ngô tuấn tú cùng cô út đi ra. Mọi người đều sửng sốt. Hai cô chị thì vừa tiếc vừa ghen tức.

Hai vợ chồng Sọ Dừa ở với nhau rất hạnh phúc. Không những thế, Sọ Dừa còn tỏ ra thông minh khác thường, ngày đêm miệt mài đèn sách, chờ khoa thi. Năm ấy, Sọ Dừa đỗ trạng nguyên. Chẳng bao lâu, có chiếu nhà vua sai quan trạng đi sứ. Khi chia tay, quan trạng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải giắt luôn trong người phòng khi dùng đến.

Từ ngày cô em út lấy chồng trạng nguyên, hai cô chị càng sinh lòng ghen ghét, rắp tâm hại em. Nhân quan trạng đi sứ, hai cô chị rủ em chèo thuyền ra biển, rồi đẩy em xuống nước. Một con cá voi nuốt chửng cô vô bụng. Sẵn có dao, cô đâm chết cá. Xác cá nổi lềnh bềnh trên mặt biển, rồi dạt vào một hòn đảo. Cô lại lấy dao khoét bụng cá chui ra, lấy hai hòn đá đánh lửa lên, rồi xẻo thịt cá nướng ăn, sống qua ngày. Hai quả trứng cũng nở thành một đôi gà đẹp, làm bạn với cô giữa cảnh đảo hoang vắng.

Một hôm, có chiếc thuyền cắm cờ đuôi nheo lướt qua đảo. Con gà trống nhìn thấy, gáy to ba lần:

─ Ò… ó… o... Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.

Quan trạng cho thuyền vào xem. Vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Về nhà, quan trạng mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong buồng. Hai cô chị không hay biết gì, tranh nhau kể chuyện cô em rủi ro rồi khóc nức nở ra chiều thương tiếc lắm. Quan trạng cho mời vợ ra. Hai người chị xấu hổ quá, lén ra về và từ đó bỏ đi biệt xứ.

CT-36 Sự Tích Khăn Tang

Sự Tích Khăn Tang

Ngày xưa, có vợ chồng nhà phú hộ nọ sinh được năm người con gái. Lần lượt năm cô lớn lên, ai nấy đều lập gia đình ở xa. Một hôm, cảm thấy nhớ con, bà và con hầu đi thăm các con. Chỉ được vài tháng bà trở về, vẻ mặt buồn xo. Thấy thế, ông liền hỏi dồn:

─ Sao bà về sớm vậy?

Bà phú hộ đáp:

─ Ông cứ đi một lần cho biết.

Thấy vợ nói úp úp mở mở, ông phú hộ cũng sắm sửa hành lý ra đi.

Ông ghé nhà người con gái thứ nhất. Chàng rể tiếp đón niềm nở. Con gái ông thì chỉ chuyện trò vài câu rồi bỏ ông ngồi đó. Đến gần trưa, ông thấy đói bụng, định bảo nó dọn cho mình ăn trước, nhưng lại nghĩ thầm: “Để xem nó đối đãi với mình ra sao!” Ông thấy con gái chờ chồng về mới dọn cơm ra. Vì chàng rể còn bận nên ông phải đợi tiếp. Đến quá trưa, con gái ông mới gọi chồng:

─ Mình ơi, hãy để đó vào ăn cơm đi, cho ông già ăn với!

Nghe con gái nói thế, ông không được vui. Ở chơi ít ngày, thấy con gái thờ ơ, ông liền từ giã vợ chồng nó mà đi đến nhà đứa khác.

Đến nhà đứa thứ hai, ông thấy cũng chẳng khác gì đứa đầu. Lần lượt ông đi thăm đủ cả năm cô con gái, nhưng chẳng đứa nào quan tâm chăm sóc ông như lúc còn ở nhà. Sau cùng, ông chép miệng:

─ Chúng nó xem chồng trọng hơn bố mẹ nhiều.

Nghĩ vậy nên ông trở về. Khi về, ông bàn với vợ:

─ Tôi sẽ đi kiếm một đứa con nuôi đặng mai sau nó săn sóc chúng mình. Bà nghĩ sao?

Được rồi, ông cứ đi đi, cố tìm một đứa con ngoan phụng dưỡng, mọi việc ở nhà mặc tôi lo liệu.

Phú hộ bèn đóng vai một ông già nghèo khó rồi ra đi, đến đâu ông cũng rao:

─ Ai mua cha không? Mua ta về làm cha chỉ mất năm quan tiền thôi...

Mọi người nghe ông già rao như vậy thì tưởng ông điên. Có người còn mỉa mai:

─ Mua lão ấy về để mà hầu ư?

Bấy giờ ở làng nọ có hai vợ chồng nông phu nghèo, mồ côi từ thuở bé. Nghe có người đi bán mình làm cha, họ chạy ra và nói:

─ Thú thật với ông, chúng tôi nghèo quá, muốn mua ông nhưng không sẵn tiền. Vậy ông ngồi chơi để chúng tôi đi vay tiền.

Phú ông ngồi chờ hồi lâu, thấy chị vợ chạy đi một lát rồi lại quay về. Số tiền vay được cộng với tiền sẵn có cũng chỉ có hai quan. Anh chồng liền nói:

─ Xin ông thông cảm. Hai ngày nữa mời ông trở lại, chúng tôi sẽ có đủ tiền.

Hai ngày sau, người vợ phải cắt tóc đi bán mới có đủ số tiền trao cho phú ông. Ông biết nhưng làm lơ, vẫn cứ nhận tiền và ở lại với họ. Từ đó, hai vợ chồng tỏ ra rất niềm nở và chịu khó chăm sóc hầu hạ người cha nuôi. Được vài tháng sau, nhà họ đã nghèo lại càng mạt thêm, có bữa phải nhịn đói để nhường cơm cho cha. Tuy vậy, họ vẫn một mực hiếu thảo với cha già.

Một hôm, hai vợ chồng ngủ dậy đã thấy người cha nuôi khăn gói chỉnh tề. Ông bảo họ:

─ Các con hãy đốt cái nhà này rồi đi theo ta!

Hai vợ chồng nghe thế, không dám cãi, đành nhặt nhạnh một vài món đồ buộc thành một gói, rồi châm lửa đốt nhà. Năm ngày sau, họ đến trước một ngôi nhà ngói tường vôi. Bà phú hộ từ trong nhà bước ra cổng đón vào. Ông tươi cười bảo vợ:

─ Bà này, đây mới thật là con của chúng ta đấy!

Bấy giờ vợ chồng anh nông phu mới biết được cha mẹ nuôi mình là một nhà giàu có. Từ đó hai vợ chồng có một cuộc sống sung sướng.

Ít lâu sau, phú hộ lâm bệnh nặng. Biết mình sắp chết, ông gọi vợ đến trối rằng:

─ Sau khi tôi chết, bà nhớ đừng cho năm đứa con gái biết tin! Việc để tang thì đứa con trai cứ theo cổ tục, cắt tóc, đội mũ, quấn rơm trên đầu, nhưng đứa con dâu thì khỏi cắt tóc, vì nó đã hy sinh mái tóc dài của nó để mua cha.

Nghe tin, năm đứa con gái hối hận lắm, không dám tới trước linh cữu của cha. Thương con, bà buộc lòng phải xé cho mỗi đứa một vuông vải che mặt để chúng đến nhìn mặt cha lần cuối.

Từ đó, người ta bắt chước để tang theo cách gia đình này đã làm: “Con trai cắt tóc vành rơm, mũ mấn, dây lưng chuối như cổ tục, con dâu được miễn cắt tóc, chỉ đội khăn tang, lại miễn cả che mặt. Còn con gái ngoài khăn tang còn có một mảnh vải che mặt.

CT-37 Bích Câu Kỳ Ngộ

Bích Câu Kỳ Ngộ

Ngày xưa, có một người học trò mồ côi cha mẹ, tên là Tú Uyên, trọ học ở phường Bích Câu, phía nam thành Thăng Long. Chàng rất hay chữ tuy chưa đỗ đạt gì. Một ngày nọ, nhân dịp Tú Uyên đến chùa tham dự lễ hội, chàng nhặt được một chiếc lá đa có ghi một bài thơ sau lưng lá. Tưởng có người nào ở trên lầu cao ném xuống, chàng ngước nhìn mọi nơi nhưng chẳng thấy gì cả.

Đang lúc ngơ ngác, Tú Uyên bỗng thấy có một cô gái rất xinh đẹp từ trong chùa đi ra. Bất giác Tú Uyên đứng dậy lững thững đi theo người con gái đó. Đi đến đình Quảng Văn chợt có một cơn gió bụi mù mịt, chàng lấy vạt áo che lên mặt. Đến lúc gió ngừng thì không còn thấy người con gái đâu nữa.

Từ đấy Tú Uyên ngày đêm mơ tưởng hình bóng cô gái, không thiết gì ăn uống, học hành. Nghe đồn đền Bạch Mã rất thiêng, Tú Uyên liền đến để cầu xin điều lành. Đêm ấy, thần hiện ra trong giấc mộng của chàng, bảo rằng:

─ Ngày mai ra cầu Đông đợi thì sẽ gặp điều như ý. .

Hôm sau, chàng y hẹn đến cầu Đông. Đợi mãi chẳng thấy ai cả, cuối cùng mới gặp một ông già bán tranh. Ông mời chàng mua một bức tranh tố nữ có hình dáng như người mà chàng mong đợi. Chàng mua ngay bức tranh, đem về treo trong nhà.

Đến bữa ăn, chàng dọn ra hai đôi đũa và hai cái bát. Chàng mời người trong tranh ăn cùng như mời người thật. Chàng hơi ngạc nhiên cảm thấy tố nữ trong tranh hai má đỏ bừng như có ý thẹn.

Những ngày sau đó, lúc nào Tú Uyên đi học về cũng thấy có một mâm cơm ngon được dọn sẵn. Chàng ngạc nhiên lắm. Một hôm giả vờ đi học rồi nửa đường trở về, nấp ngoài cửa sổ ngó vào, chàng thấy tố nữ từ trong tranh bước ra, dọn dẹp nhà cửa và xuống bếp làm cơm. Chàng đã hiểu ra nguyên nhân, xô cửa bước vào, nắm chặt lấy tay nàng mà rằng:

─ Thì ra là nàng. Nàng để tôi nhớ nhung bấy lâu. Bây giờ nàng hãy ở lại với tôi.

Nói xong, Tú Uyên giật bức tranh trên tường xé đi. Người con gái đỏ hai gò má, xưng tên là tiên nữ Giáng Kiều, hứa sẽ ở lại cùng chàng để kết duyên vợ chồng. Tú Uyên quá sung sướng, thề sẽ yêu nàng trọn đời.

Từ ngày có vợ, Tú Uyên bỏ bê việc học hành, chỉ chơi bời, uống rượu. Giáng Kiều khuyên can mãi nhưng không được. Trong một lần Tú Uyên say rượu, giận chồng, Giáng Kiều bỏ đi. Tỉnh rượu, không thấy vợ, Tú Uyên rất hối hận, bỏ ăn bỏ ngủ, kêu khóc thảm thiết suốt một tháng. Thấy chồng ăn năn hối lỗi, Giáng Kiều lại hiện ra. Tú Uyên vội quỳ xuống khóc, thề từ nay sẽ bỏ thói hư đốn và chăm lo học hành. Từ đấy trong nhà lại đầm ấm như xưa. Vợ chồng sinh được một đứa con trai tuấn tú, học giỏi. Sau này cả hai bố con đi thi cùng đỗ trạng.

CT-38 Trương Chi Mỵ Nương

Trương Chi Mỵ Nương

Ngày xưa, có một vị quan đại thần có một cô con gái tuyệt đẹp, tên là Mỵ Nương. Cũng như các tiểu thư con nhà trâm anh, nàng sống một cuộc đời quanh năm cấm cung ở chốn lầu trang. Ngày ngày, nàng thêu thùa hay đọc sách ở bên cửa sổ, thỉnh thoảng ngừng tay vén rèm, nhìn xuống dòng sông chảy lờ đờ cạnh lầu.

Bấy giờ có một chàng trai thuyền chài tên là Trương Chi, ngày ngày đến thả lưới kiếm ăn trên khúc sông đó. Chàng ta thường vừa buông lưới vừa hát. Tiếng hát rất hay, khiến cho Mỵ Nương ở trong lầu xao xuyến say mê.

Một dạo, Trương Chi đi đánh cá ở khúc sông khác. Chiều chiều tiếng hát không còn từ mặt sông vẳng đến lầu Mỵ Nương. Nàng mỏi mòn chờ đợi, thương nhớ rồi sinh bệnh. Các vị danh y được mời đến đều bó tay, vì không biết được căn nguyên của cơn bệnh. Quan đại thần hỏi dò những người hầu hạ Mỵ Nương mới biết là con mình bệnh vì say đắm giọng hát của chàng trai thuyền chài. Ông cho đòi người thuyền chài có giọng hát đắm say đến ra mắt Mỵ Nương.

Trương Chi đến gặp Mỵ Nương. Chàng ta đội chiếc nón lá che mất khuôn mặt mình. Mỵ Nương năn nỉ mãi, Trương Chi mới ngả nón ra. Nhưng khi nhìn thấy mặt Trương Chi, Mỵ Nương vỡ mộng vì Trương Chi xấu xí quá. Và tiếng hát từ đấy không còn rung cảm lòng cô gái đài trang nữa.

Nhưng anh chàng thuyền chài Trương Chi, từ khi trông thấy Mỵ Nương xinh đẹp, đã thầm yêu nàng. Chàng tủi cho thân phận nghèo hèn, xấu xí của mình và thường than thở:

Kiếp này đã dở dang nhau,

Thì xin kiếp khác, duyên sau lại lành.

Âm thầm khổ đau với mối tình tuyệt vọng, Trương Chi khô héo gầy mòn, rồi chết vì tương tư.

Bao nhiêu năm qua, đến khi người nhà bốc mộ để cải táng, thì thấy thịt xương Trương Chi đều đã tan rữa, duy chỉ có trái tim biến thành một khối ngọc sáng long lanh. Họ bèn lấy gắn ở đầu thuyền của người quá cố để làm kỷ niệm.

Một ngày kia, vị đại thần đi ngang sông, trông thấy ngọc đá lạ, mua về, thuê thợ tiện làm thành một chén trà đẹp. Mỗi lần rót nước vào, trong lòng chén thấy lấp loáng hiện ra một kẻ thuyền chài chèo thuyền quanh trong đó.

Mỵ Nương nghe nói thế, đòi xem, rót trà vào chén, thì thấy hình người năm xưa hiện ra, và nàng tưởng chừng như văng vẳng đâu đây tiếng hát đã có lần làm rung động lòng mình. Nhớ thương tràn dâng thành nước mắt, một giọt lệ lăn tròn trên má Mỵ Nương rơi vào lòng chén. Chén ngọc đang cầm ở tay người đẹp bỗng tan ra thành nước.

CT-39 Bụng Làm Dạ Chịu

Bụng Làm Dạ Chịu

Ngày xưa, có một anh chàng chỉ biết ăn bám vợ. Người vợ rất bực mình. Một hôm, chị bắt anh ta đi học nghề để nuôi thân. Anh đi suốt buổi, nhưng chả học được gì. Vừa về tới nhà, anh nghe được vợ anh dặn con cất hai cái bánh vào trong vại gạo để dành cho anh. Anh bèn giả vờ đi từ phía cổng bước vào nhà. Vợ anh hỏi:

─ Đã tìm được nghề gì chưa?

─ Tôi học được nghề bói bằng cách hít. Cái gì cất giấu ở đâu, tôi chỉ hít hít mấy cái là tìm ra ngay.

Nghe thế, vợ anh chưa tin nên muốn thử, ngần ngừ nói:

─ Tôi có mua hai cái bánh. Nếu mình bói được thì cứ hít cho ra mà ăn.

Thế là anh chàng ngước mũi lên, giả vờ hít hít mấy cái quanh phòng rồi bảo:

─ Đúng rồi, nó ở trong vại gạo chứ đâu!

Người vợ tưởng thật, mừng quá, liền chạy đi khoe với xóm giềng rằng chồng mình mới học được nghề thầy hít.

Hôm ấy, trong xóm có một bà bị mất một ổ lợn con. Bà ấy chạy đến khẩn khoản nhờ anh tìm giúp. Mặc dầu sáng nay đã thấy bầy lợn con ở bụi tre dọc đường, anh ta cũng giả vờ hít hít rồi dắt bà ấy đến chỗ có lợn, vui vẻ nói:

─ Bà đã thấy tài của tôi chưa? Lợn con của bà đây này!

─ Ồ! Thật không ngờ anh lại là thầy hít tài giỏi đến thế! Tôi xin biếu thầy cặp lợn con để trả ơn.

Ít lâu sau, vợ anh đem việc anh học được nghề hít khoe với bố mẹ đẻ. Nghe vậy, người bố liền thử:

─ Nếu nó chỉ đúng món tiền chôn ở gốc táo sau vườn thì bố sẽ thưởng cho nó một nửa.

Không ngờ anh đã lén theo vợ, đứng nấp ở sau nhà và nghe rõ tất cả. Anh chạy thẳng một mạch về nhà, rồi leo lên giường giả vờ nằm ngủ. Vợ anh về nhà kể lại lời hứa của bố. Thế là anh theo sang nhà bố vợ, chỉ đúng chỗ chôn của và sau đó được bố vợ thưởng cho số tiền như đã hứa.

Cũng vào thời điểm đó, nhà vua bị mất một con rùa vàng và một con rùa bạc, là hai món bảo vật của vua Trung Quốc tặng. Vua nghe có tiếng đồn về tài hít của anh, liền sai quân lính đi mời anh về cung. Anh vô cùng hoảng hốt, lòng rối bời, không biết tính sao, nhưng đành phải theo lệnh vua về kinh đô kẻo bị ghép vào tội khi quân.

Nằm trong cáng dọc đường về đô, anh rất lo sợ cứ nghĩ về việc anh lừa bịp và nếu bị khám phá sẽ bị chém đầu. Vì thế, khi đi qua sông, anh ta vùng nhảy xuống nước để tự tử vì trước sau gì cũng chết. Thấy anh nhảy xuống sông, hai người lính khiêng cáng hoảng hồn bèn chia nhau lặn xuống nước tìm. Họ lôi được anh ta lên bờ. Khi vừa tỉnh lại, anh ta giả vờ giận, mắng hai tên lính rằng:

─ Ta xuống để hỏi vua Thủy Tề xem ai là thủ phạm chứ có can chi mà hai ngươi hốt hoảng như thế?

Tự tử không thành, anh rầu rĩ, lẩm bẩm mấy tiếng:

─ Thôi thì bụng làm dạ chịu!

Không ngờ hai tên lính, một đứa tên là Bụng và một đứa tên là Dạ. Chúng tưởng là anh đã biết rõ cơ sự rồi, bèn van xin thú tội:

─ Chúng tôi đã trộm báu vật của nhà vua giấu trên máng nhà.

Nghe vậy, anh mừng rỡ vội nói:

─ Nếu các ngươi ăn năn chừa thì ta sẽ không kể lại chuyện này.

Vào cung gặp vua, anh giả vờ hít một hồi lâu rồi chỉ lên máng nhà nơi báu vật được cất giấu. Anh được vua ban thưởng trọng hậu.

Về nhà chưa được bao lâu thì sứ Trung Quốc mang kiệu đến mời anh sang giúp tìm những bảo vật quý giá của nhà vua đã bị mất. Đường đi gồ ghề, các phu kiệu vô ý làm xóc kiệu. Anh đập mặt vào thành kiệu và bị sứt mất một bên mũi. Anh giả vờ giận dữ rồi chỉ mũi mình mà nói:

─ Tôi nhờ cái mũi này mới bói được. Nay bị sứt, làm hỏng mất sự mầu nhiệm thì tôi chẳng giúp được gì.

Sứ giả đành phải để cho anh quay trở lại nhà; nhờ vậy mà anh mới thoát nạn. Từ đó, anh không còn không dám khoác lác để lừa mọi người nữa.

CT-40 Quan Âm Thị Kính

Quan Âm Thị Kính

Ngày xưa có gia đình họ Mãng giàu có và danh giá, họ sinh được một người con gái rất xinh và bụ bẫm. Ông bà đặt tên cho con là Thị Kính, với niềm ước mong rằng con sẽ thành một thiếu nữ ngoan hiền, thờ cha kính mẹ và kính trên nhường dưới.

Đến tuổi lấy chồng, bố mẹ gả nàng cho một người học trò họ Sùng, tên là Thiện Sĩ. Một hôm, Thiện Sĩ nằm ở ghế tràng kỷ đọc sách cho vợ nghe rồi thiu thiu ngủ. Hơi thở đều đều của Thiện Sĩ làm cho sợi râu loăn xoăn ở cằm cứ đung đưa. Thị Kính bèn lấy cái kéo định cắt sợi râu xấu xí ấy cho chồng.

Thiện Sĩ thấy động, chợt tỉnh và nhìn thấy vợ đang đưa cái kéo sáng loáng trước mặt. Thiện Sĩ hoảng hốt ngồi bật dậy rồi kết tội vợ đã mưu giết mình. Sau đó, Thị Kính bị đuổi ra khỏi nhà. .

Nỗi oan nghiệt ngã ấy khiến Thị Kính nghĩ phải đi biệt xứ. Thị Kính ăn mặc đóng giả làm con trai rồi xách khăn gói đi đến một miền thật xa.

Thị Kính đến một ngôi chùa xin sư ông nhận làm tiểu, lấy hiệu là tiểu Kính Tâm. Từ đấy, tiểu Kính Tâm miệt mài kinh kệ, không biết gì đến chuyện ngoài đời.

Tiểu Kính Tâm tuy đầu xuống tóc nhẵn nhụi, quần áo nâu sống lam lũ nhưng đôi mắt và nụ cười của chú tiểu đẹp trai đã làm say mê biết bao cô gái ở trong vùng mỗi khi các cô đến chùa…

Trong làng có Thị Mầu, con gái nhà phú ông. Thị Mầu chết mê chết mệt tiểu Kính Tâm. Đã nhiều lần, Thị Mầu tỏ tình ra mặt với Kính Tâm nhưng Thị Mầu đều bị Kính Tâm chối từ, lảng tránh.

Thị Mầu là cô gái lẳng lơ, hay ngao du rồi có mang. Thị Mầu khai ả đã có mang với Kính Tâm. Kính Tâm bị dân làng gọi ra đình tra hỏi. Kính Tâm chỉ lắc đầu nói không biết, nhưng Thị Mầu thì cứ một mực đổ cho Kính Tâm.

Tuần tráng trong làng cứ kẻ phạm tội mà đánh đòn. Kính Tâm chịu đòn trong im lặng. Sư ông thương xót lắm và xin nộp tiền phạt để đưa Kính Tâm về chùa. Sợ ô uế cửa thiền, sư ông cho tiểu Kính Tâm ở trong cái lều nhỏ ngoài vườn chùa.

Sau đó, Thị Mầu sinh được một con trai. Nửa đêm, Thị Mầu đem đứa con bỏ ra tam quan cạnh lều Kính Tâm.

Kính Tâm bế đứa trẻ về lều nuôi. Chẳng bao lâu đứa trẻ đã lên sáu tuổi, biết đi mót lúa mót khoai về giúp Kính Tâm mà nó vẫn tưởng là bố.

Kính Tâm thì ngày một ốm yếu, rồi lâm bệnh nặng. Biết mình không thể qua khỏi, Kính Tâm viết một lá thư cho cha mẹ, một lá thư gửi sư ông, dán kỹ rồi dặn con:

─ Khi nào ta chết thì con đưa thư này vào chùa gửi sư ông.

Mùa đông năm ấy, Kính Tâm chết. Lúc khâm liệm, làng xóm mới biết Kính Tâm là đàn bà. Ai nấy đều bùi ngùi thương xót thân phận con người bị oan nghiệt. Họ bắt Thị Mầu phải ra chịu tang Kính Tâm..

 

Lịch Trình

Dự Án

Truyện Cho Bé" là một dự án nhằm cung cấp miễn phí những truyện tranh để làm tài liệu dạy tiếng Việt cho các em học sinh Việt Nam tại hải ngoại.  Trong dự án này, trường sẽ mướn họa sĩ để vẽ tranh minh họa cho các truyện.  Trường rất mong muốn được sự trợ giúp của quý vị trong dự án hữu ích này.  Nếu quý vị muốn tài trợ cho dự án này, xin gửi chi phiếu về địa chỉ sau:

Trường Thánh Tôma Thiện
1902 S. Beltline Road
Grand Prairie, Texas 75051

Hạnh Các Thánh

July 2014
MonTueWedThuFriSatSun
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031   
You are here: Home Tài Liệu Truyện Cổ Tích